Tin trong nước

Diễn đàn “Thanh niên với an ninh nguồn nước”

a1"Tuổi trẻ, thanh niên của Bộ, đặc biệt là các thủ lĩnh của Đoàn thanh niên cần đưa tiến bộ khoa học công nghệ, các thành quả của công nghệ, áp dụng công nghệ 4.0 vào lĩnh vực quản lý nước”, đó là chỉ đạo của Bộ trưởng Trần Hồng Hà tại Diễn đàn ”Thanh niên với an ninh nguồn nước” lần thứ nhất năm 2019 trong khuôn khổ Tuần lễ Nước Quốc tế Việt Nam và kỷ niệm Ngày Nước thế giới 22 tháng 3, do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức sáng nay tại Hà Nội.

Diễn đàn “Thanh niên với an ninh nguồn nước”

 

Lễ Mít tinh hưởng ứng ngày nước thế giới và lễ Khai mạc tuần lễ nước quốc tế Việt Nam (VACI2019)

1cSáng 22/3, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Lễ Mít tinh hưởng ứng Ngày Nước thế giới và Khai mạc Tuần lễ Nước quốc tế Việt Nam 2019. Tham dự buổi lễ có Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà. Tới dự buổi lễ còn có nguyên Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Thái Lai; đại diện lãnh đạo các Tổng cục, các Cục, Vụ, Viện, các đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT; đại diện Tổng cục Thủy Lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; đại diện Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ; đại diện các tỉnh phía Bắc.

Lễ Mít tinh hưởng ứng ngày nước thế giới và lễ Khai mạc tuần lễ nước quốc tế Việt Nam (VACI2019)

 

“Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau”

 “Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau”

Ngày 22/3, Bộ TN&MT tổ chức mít tinh Kỷ niệm Ngày Nước thế giới năm 2019 với Chủ đề “Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm điều chỉnh, cụ thể những cam kết trong Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, mọi người đều phải hưởng lợi: “Dù bạn là ai, dù bạn ở đâu, nước là quyền của con người bạn”. Nhân sự kiện này, phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường đã phỏng vấn Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy xung quanh vấn đề quản lý nước của nước ta hiện nay.

PV: Với Chủ đề “Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, xin ông cho biết, ý nghĩa của Ngày Nước thế giới năm nay?

PV: Với Chủ đề “Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, xin ông cho biết, ý nghĩa của Ngày Nước thế giới năm nay?

Ông Hoàng Văn Bẩy: Tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 tổ chức ở Rio, Brazil, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 22/3 là Ngày Nước thế giới được tổ chức hằng năm. Mỗi năm, Liên Hợp Quốc chọn một chủ đề cho Ngày Nước thế giới nhằm tập trung giải quyết các vấn đề nóng liên quan đến tài nguyên nước mang tính toàn cầu.

Ngày Nước thế giới 2019 có Chủ đề “Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau” hướng đến đến tuyên truyền, vận động về khả năng tiếp cận với nước sạch của cộng đồng nhằm thực hiện Mục tiêu Phát triển bền vững số 6 về Nước sạch và vệ sinh, theo đó, đảm bảo sự sẵn có, quản lý bền vững nước và vệ sinh cho tất cả mọi người. Vì thế, tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe cộng đồng - điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững, vì một thế giới ổn định và thịnh vượng. Chúng ta không thể tiến lên toàn cầu hóa trong khi rất nhiều người đang sống mà không có nguồn nước sử dụng an toàn.

11Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước Hoàng Văn Bẩy

PV: Tài nguyên nước đang trở thành vấn đề “nóng” với nhiều bất cập. Theo ông, cần có những giải pháp gì trong quản lý nguồn tài nguyên này?

Ông Hoàng Văn Bẩy: Thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ, Bộ TN&MT đã xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đồng bộ cho công tác quản lý tài nguyên nước từ Trung ương đến địa phương. Để bảo đảm quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, toàn diện, hiệu quả cao, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước giai đoạn 2014 - 2020... Tuy vậy, công tác quản lý về tài nguyên nước còn những bất cập như lập quy hoạch tài nguyên nước chậm; việc điều hòa, phân bổ nguồn nước giữa các ngành, địa phương đòi hỏi phải có sự tính toán cụ thể và sự đồng thuận cao, trong khi chưa thành lập được các Ủy ban lưu vực sông; thông tin, dữ liệu, số liệu điều tra, đánh giá, quan trắc tài nguyên nước còn phân tán, chưa có cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước và chưa đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tài nguyên nước.

Đáng lưu ý, tại các địa phương, cán bộ quản lý tài nguyên nước còn thiếu về số lượng, không có chuyên môn sâu về chuyên ngành, hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm. Do kinh phí hạn chế nên công tác xây dựng mạng lưới các điểm, trạm quan trắc, giám sát tài nguyên nước; điều tra, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước khó thực hiện. Ý thức chấp hành pháp luật về tài nguyên nước của người dân còn chưa cao, vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân xả nước thải chưa qua xử lý vào môi trường; sử dụng nước còn lãng phí, chưa hiệu quả, tình trạng hành nghề khoan nước dưới dất trái phép còn diễn ra phức tạp, khó kiểm soát...

Theo tôi, công tác quản lý tài nguyên nước cần có những giải pháp là: Đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về tài nguyên nước đã ban hành, trọng tâm là các quy định như: Hạn chế khai thác nước dưới đất; thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên cơ sở áp dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến; xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng.

Tiếp đó, đẩy mạnh điều tra tìm kiếm nguồn nước dưới đất ở vùng khan hiếm nước, thiếu nước, hải đảo; nghiên cứu xây dựng để sớm đưa vào hệ thống giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, giám sát việc vận hành của hệ thống liên hồ chứa, vận hành duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ chứa thủy điện... bằng công nghệ tự động, trực tuyến.

Đồng thời, triển khai Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Quy hoạch đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu về: Điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước mặt; điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất; công bố được kết quả tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, báo cáo tài nguyên nước quốc gia (theo giai đoạn 5 năm 1 lần) vào năm 2025, 2030 và lập báo cáo chuyên đề về tài nguyên nước, báo cáo sử dụng nước hằng năm của các Bộ, ngành, địa phương theo quy định của Luật Tài nguyên nước.

Cuối cùng là hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống giám sát việc phối hợp vận hành liên hồ chứa của khoảng 70 hồ chứa lớn, quan trọng trên 11 lưu vực sông và hệ thống giám sát hoạt động khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nước; hoàn thành việc khoanh định, công bố vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên phạm vi cả nước; hoàn thành việc xác định và công bố khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước đối với các sông lớn, quan trọng hoặc trọng điểm về ô nhiễm nguồn nước. Theo đó, xác định được tầm nhìn đến năm 2050, về cơ bản thông tin, số liệu, kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước đáp ứng được yêu cầu quản lý hiệu quả, khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia trên cơ sở nền tảng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến theo chuẩn mực chung quốc tế.

12"Nước cho tất cả" là mục tiêu của quản lý tài nguyên nước"

 PV: Định hướng của Chính phủ là hạn chế khai thác nước dưới đất do nguồn nước này đang ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và dần chuyển hướng sang khai thác nước mặt. Trong khi đó, nhiều lưu vực sông trong cả nước đang ô nhiễm. Theo ông, cần có giải pháp gì để bảo vệ nguồn nước?

Ông Hoàng Văn Bẩy: Luật Tài nguyên nước 2012 đã có các quy định để quản lý nguồn nước dưới đất như: Quy định về bảo vệ nước dưới đất tại Điều 35, quy định về việc thăm dò, khai thác nước dưới đất tại Điều 44 và Điều 52. Với tốc độ khai thác như những năm qua, nhiều tầng chứa nước đã ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, không còn khả năng khai thác. Có thể nói việc khai thác nguồn tài nguyên nước này đã ở mức báo động, đòi hỏi Chính phủ phải có các biện pháp quản lý hiệu quả và biện pháp phải hạn chế khai thác nguồn nước dưới đất là điều tất yếu.

Ngày 26/12/2018, Bộ TN&MT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 167/2018/NĐ-CP quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất nhằm tăng cường biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất. Trong thời gian tới, Bộ TN&MT và các địa phương sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ các quy định của Luật Tài nguyên nước, đặc biệt, các quy định về hạn chế khai thác nguồn nước dưới đất theo quy định của Nghị định số 167/2018/NĐ-CP, đồng thời với các giải pháp cụ thể phù hợp cho từng địa phương.

Thực tế, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt đã được quy định khá đầy đủ trong các hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước và môi trường. Tuy vậy, trong quá trình thực thi vẫn có một số vướng mắc, bất cập giữa các cấp, các ngành. Bên cạnh những hạn chế về nguồn lực thực hiện, nhất là nguồn tài chính và ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng dẫn đến quản lý ô nhiễm nguồn nước hiệu quả chưa cao. Do vậy, Bộ TN&MT cần rà soát để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường để giải quyết các bất cập và đáp ứng với tình hình mới.

Đồng thời, cần phải triển khai các giải pháp tổng thể như: Triển khai việc cải thiện, phục hồi các dòng sông bị ô nhiễm là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu; tập trung đầu tư hệ thống quan trắc chất lượng nguồn nước, hệ thống giám sát các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước, hệ thống giám sát quy trình vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên các lưu vực sông để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho các dòng sông. Thực hiện việc điều tra cơ bản về tài nguyên nước trên cả nước và trên các lưu vực sông. Dữ liệu điều tra cơ bản tài nguyên nước là cơ sở đánh giá thực trạng nguồn nước để chúng ta có các giải pháp quản lý tài nguyên nước phù hợp và hiệu quả. Triển khai việc lập quy hoạch tài nguyên nước, trong đó, đặc biệt việc lập quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông. Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông một trong những biện pháp quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông. Khẩn trương triển khai thực hiện các văn bản mới ban hành nhằm kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho các dòng sông như Thông tư số 64/2017/TT-BTNMT ngày 22/12/2017 Quy định về xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng; Thông tư số 76/2017/BTNMT ngày 29/12/2017 Quy định về đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước theo Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 của Chính phủ quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước tại các địa phương.

Theo nguồn monre.gov.vn

“Nước cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau”

 

Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất

khai-thac-nuoc-duoi-dat1

Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất

Quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất

 

Báo cáo kết quả giai đoạn I đề án bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn

(TN&MT) - Ngày 18/10, Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành đã làm việc với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia về kết quả thực hiện Giai đoạn I và Kế hoạch triển khai Giai đoạn II Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn.

anh 1Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp 

Ông Triệu Đức Huy– Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia cho biết: Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” - Giai đoạn I (sau đây gọi tắt là Đề án)được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia chủ trì tổ chức thực hiện từ năm 2013 đến năm 2018. Đến nay, về cơ bản đã hoàn thành giai đoạn I của Đề án theo mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra.

 Theo ông Triệu Đức Huy, việc Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các đô thị được thực hiện ở tất cả các đô thị. Kết quả điều tra đạt được trong giai đoạn 1 đã làm sáng tỏ cấu trúc, điều kiện, thông số địa chất thủy văn của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định được sự phân bố, miền cung cấp, vận động và thoát của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định mối quan hệ thủy lực giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định tiềm năng, trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định ranh giới nhiễm mặn, các vùng nước dưới đất bị ô nhiễm.

anh 2Ông Tống Ngọc Thanh - Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia phát biểu tại cuộc họp

Ông Triệu Đức Huy dẫn chứng kết quả điều tra ở đô thị Hà Nội cho thấy: Toàn thành phố có 16 tầng chứa nước, trong đó có 4 tầng chứa nước chính cần bảo vệ là Holocen (qh); Pleistocen trên (qp2); Pleistocen dưới (qp1) và Pliocen (n2). Tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất toàn đô thị là 11.025.947m3/ngày; trong đó, phần nước nhạt là 10.042.588m3/ngày, phần nước mặn là 983.359m3/ngày. Trữ lượng có thể khai thác phần nước nhạt là 4.076.365m3/ngày. Chất lượng nước về cơ bản có thể đáp ứng các mục đích ăn uống sinh hoạt và sản xuất, một số khu vực trong các tầng chứa nước qh, qp1 và qp2 hàm lượng Fe, Mn, As và NH4+ vượt so với giới hạn cho phép. Một số khu vực phía Nam thuộc huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa nước bị nhiễm mặn. Nguồn cung cấp chủ yếu cho các tầng từ nước mưa ngấm xuống ở các vùng lộ, là nước mặt sông, hồ thấm qua “cửa sổ địa chất thủy văn”, nước từ ranh giới tiếp xúc phần rìa đá gốc chảy vào và lượng nước thấm xuyên từ tầng chứa nước bên trên, và nước thấm theo các đứt gãy kiến tạo.

anh3Ông Triệu Đức Huy - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia báo cáo tại cuộc họp

Về khả năng tự bảo vệ, các tác động, nguyên nhân, con đường gây cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất, qua khảo sát cũng chỉ ra được một số kết quả đáng ghi nhận. Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước tầng chứa nước qh, khu vực có khả năng tự bảo vệ thấp phân bố tại 13 vùng với diện tích 1.073km2.

Ông Triệu Đức Huy cho biết thêm, kết quả điều tra và đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất cho thấy, vùng cạn kiệt nước dưới đất trong tầng chứa nước Holocen có diện tích khoảng 306,1 km2 phân bố chủ yếu ở các khu vực: Cầu Giấy, Ba Đình, Thanh Xuân, Bắc Từ Liêm, Đan Phượng, Phúc Thọ,… Ô nhiễm nước dưới đất: Kết quả điều tra và đánh giá cho thấy hiện nay trên phạm vi đô thị có 2.085 nghĩa trang… Với sự phân bố, quy mô và tính chất của các nguồn thải nêu trên, căn cứ vào khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước đã xác định 5 vùng có nguy cơ ô nhiễm cao đến nước dưới đất với diện tích 426km2; 3 vùng có nguy cơ ô nhiễm trung bình với diện tích 1.097km2; 3 vùng có nguy cơ ô nhiễm thấp với diện tích 3.268km2.

Ông Triệu Đức Huy cho hay: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ và chi tiết hiện trạng nước dưới đất cũng như các vấn đề tài nguyên nước dưới đất ở 09 đô thị lớn, trọng điểm của nước ta, Đề án đã đề xuất được các giải pháp kỹ thuật bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất ở từng đô thị. Các giải pháp kỹ thuật bảo vệ tài nguyên nước dưới đất bao gồm: Quy hoạch vùng bảo vệ miền cấp, đới bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất; Quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; Quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất; Quy hoạch xây dựng, hoàn chỉnh mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất và Bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất.

Đề án cũng đã xây dựng được phần mềm cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, tích hợp đầy đủ toàn bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước dưới đất ở 9 đô thị lớn, trọng điểm của nước ta. Phần mềm cơ sở dữ liệu được tích hợp, kết nối các thông tin cơ sở dữ liệu của mạng quan trắc Quốc gia và mạng quan trắc địa phương do đó có thể dễ dàng tra cứu, sử dụng và cập nhật các thông tin về tài nguyên nước phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước và bảo vệ tài nguyên nước.

Trên cơ sở kết quả thi công giai đoạn I, Đề án đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật bao gồm: Hướng dẫn kỹ thuật điều tra nước dưới đất đô thị; Hướng dẫn bảo vệ nước dưới đất đô thị; Hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng vùng cấm, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất; Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng vùng và đới bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất; Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng và vận hành mạng quan trắc nước dưới đất trong hệ thống mạng quan trắc tài nguyên nước quốc gia; Hướng dẫn kỹ thuật bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất. “Các hướng dẫn kỹ thuật này đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần để các cơ quan nhà nước ban hành hệ thống các quy định kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá ở lĩnh vực điều tra tài nguyên nước dưới đất, đồng thời cũng là các tài liệu hết sức hữu ích trong quá trình triển khai bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn giai đoạn tiếp theo đảm bảo khả thi và hiệu quả” – ông Triệu Đức Huy thông tin.

Tại cuộc họp, ông Tống Ngọc Thanh – Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia nhấn mạnh: Kết quả của Đề án đã đánh giá đầy đủ nhất về hiện trạng tài nguyên nước dưới đất ở các đô thị lớn, đồng thời đề xuất được các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho các đô thị lớn. Đây sẽ là sản phẩm phục vụ hữu ích cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các đô thị trong thời gian tới.

Ông Tống Ngọc Thanh kiến nghị Bộ TN&MT chỉ đạo các đơn vị liên quan sớm hoàn thiện hồ sơ và sản phẩm, đưa vào chương trình hỗ trợ quản lý của Cục quản lý Tài nguyên nước để chuyển giao cho địa phương. Bởi lẽ, qua khảo sát và đánh giá, hiện nay các đô thị Hà Nội, TP.HCM khai thác quá mức. Sản phẩm của đề án này đáp ứng cho việc bảo vệ tài nguyên nước tại các đô thị này. Sau khi hoàn thiện sẽ tổ chức hai đợt bàn giao cho khu vực phía Bắc và phía Nam. Trung tâm kiến nghị  Bộ TN&MT cho phép triển khai tiếp giai đoạn II ở 18 đô thị còn lại.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Thứ trưởng Lê Công Thành đánh giá cao nỗ lực của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia trong việc hoàn thành giai đoạn I của Đề án theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ đề ra. Thứ trưởng Lê Công Thành cũng đề nghị Trung tâm sớm hoàn thiện hồ sơ giai đoạn 1 và xây dưng đề cương giai đoạn 2 trình lãnh đạo Bộ xem xét.

Theo Quyết định phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời gian thực hiện Đề án từ năm 2013 - 2020, trong đó giai đoạn I thực hiện tại 9 đô thị trọng điểm bao gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Buôn Mê Thuột, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho. Đây là một Đề án lớn, trọng điểm được Bộ giao cho Trung tâm chủ trì và có sự tham gia của Cục quản lý Tài nguyên nước. Mục tiêu của Đề án này là: Trên cơ sở đánh giá nguồn nước dưới đất ở các đô thị lớn, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho các đô thị lớn.

(Theo nguồn baotainguyenmoitruong.vn)

 

Báo cáo kết quả giai đoạn I đề án bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn

 
Trang 12345678

Trang 1 trong tổng số 8 trang

Video sự kiện

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Playlist: 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23

Thiệp 2019 1381X759

THIỆP 2019 719X395

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Tài nguyên và Môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay407
mod_vvisit_counterTrong tuần595
mod_vvisit_counterTrong tháng3473
mod_vvisit_counterTất cả1898958

We have: 23 guests online