Tin trong nước

Báo cáo kết quả giai đoạn I đề án bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn

(TN&MT) - Ngày 18/10, Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành đã làm việc với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia về kết quả thực hiện Giai đoạn I và Kế hoạch triển khai Giai đoạn II Đề án Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn.

anh 1Thứ trưởng Bộ TN&MT Lê Công Thành phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp 

Ông Triệu Đức Huy– Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia cho biết: Đề án “Bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn” - Giai đoạn I (sau đây gọi tắt là Đề án)được Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia chủ trì tổ chức thực hiện từ năm 2013 đến năm 2018. Đến nay, về cơ bản đã hoàn thành giai đoạn I của Đề án theo mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra.

 Theo ông Triệu Đức Huy, việc Điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất các đô thị được thực hiện ở tất cả các đô thị. Kết quả điều tra đạt được trong giai đoạn 1 đã làm sáng tỏ cấu trúc, điều kiện, thông số địa chất thủy văn của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định được sự phân bố, miền cung cấp, vận động và thoát của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định mối quan hệ thủy lực giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định tiềm năng, trữ lượng có thể khai thác của các tầng chứa nước cần bảo vệ; Xác định ranh giới nhiễm mặn, các vùng nước dưới đất bị ô nhiễm.

anh 2Ông Tống Ngọc Thanh - Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia phát biểu tại cuộc họp

Ông Triệu Đức Huy dẫn chứng kết quả điều tra ở đô thị Hà Nội cho thấy: Toàn thành phố có 16 tầng chứa nước, trong đó có 4 tầng chứa nước chính cần bảo vệ là Holocen (qh); Pleistocen trên (qp2); Pleistocen dưới (qp1) và Pliocen (n2). Tổng tiềm năng tài nguyên nước dưới đất toàn đô thị là 11.025.947m3/ngày; trong đó, phần nước nhạt là 10.042.588m3/ngày, phần nước mặn là 983.359m3/ngày. Trữ lượng có thể khai thác phần nước nhạt là 4.076.365m3/ngày. Chất lượng nước về cơ bản có thể đáp ứng các mục đích ăn uống sinh hoạt và sản xuất, một số khu vực trong các tầng chứa nước qh, qp1 và qp2 hàm lượng Fe, Mn, As và NH4+ vượt so với giới hạn cho phép. Một số khu vực phía Nam thuộc huyện Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa nước bị nhiễm mặn. Nguồn cung cấp chủ yếu cho các tầng từ nước mưa ngấm xuống ở các vùng lộ, là nước mặt sông, hồ thấm qua “cửa sổ địa chất thủy văn”, nước từ ranh giới tiếp xúc phần rìa đá gốc chảy vào và lượng nước thấm xuyên từ tầng chứa nước bên trên, và nước thấm theo các đứt gãy kiến tạo.

anh3Ông Triệu Đức Huy - Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Quốc gia báo cáo tại cuộc họp

Về khả năng tự bảo vệ, các tác động, nguyên nhân, con đường gây cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất, qua khảo sát cũng chỉ ra được một số kết quả đáng ghi nhận. Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước tầng chứa nước qh, khu vực có khả năng tự bảo vệ thấp phân bố tại 13 vùng với diện tích 1.073km2.

Ông Triệu Đức Huy cho biết thêm, kết quả điều tra và đánh giá nguy cơ cạn kiệt nước dưới đất cho thấy, vùng cạn kiệt nước dưới đất trong tầng chứa nước Holocen có diện tích khoảng 306,1 km2 phân bố chủ yếu ở các khu vực: Cầu Giấy, Ba Đình, Thanh Xuân, Bắc Từ Liêm, Đan Phượng, Phúc Thọ,… Ô nhiễm nước dưới đất: Kết quả điều tra và đánh giá cho thấy hiện nay trên phạm vi đô thị có 2.085 nghĩa trang… Với sự phân bố, quy mô và tính chất của các nguồn thải nêu trên, căn cứ vào khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước đã xác định 5 vùng có nguy cơ ô nhiễm cao đến nước dưới đất với diện tích 426km2; 3 vùng có nguy cơ ô nhiễm trung bình với diện tích 1.097km2; 3 vùng có nguy cơ ô nhiễm thấp với diện tích 3.268km2.

Ông Triệu Đức Huy cho hay: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ và chi tiết hiện trạng nước dưới đất cũng như các vấn đề tài nguyên nước dưới đất ở 09 đô thị lớn, trọng điểm của nước ta, Đề án đã đề xuất được các giải pháp kỹ thuật bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất ở từng đô thị. Các giải pháp kỹ thuật bảo vệ tài nguyên nước dưới đất bao gồm: Quy hoạch vùng bảo vệ miền cấp, đới bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất; Quy hoạch vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; Quy hoạch khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất; Quy hoạch xây dựng, hoàn chỉnh mạng quan trắc, giám sát tài nguyên nước dưới đất và Bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất.

Đề án cũng đã xây dựng được phần mềm cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, tích hợp đầy đủ toàn bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước dưới đất ở 9 đô thị lớn, trọng điểm của nước ta. Phần mềm cơ sở dữ liệu được tích hợp, kết nối các thông tin cơ sở dữ liệu của mạng quan trắc Quốc gia và mạng quan trắc địa phương do đó có thể dễ dàng tra cứu, sử dụng và cập nhật các thông tin về tài nguyên nước phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước và bảo vệ tài nguyên nước.

Trên cơ sở kết quả thi công giai đoạn I, Đề án đã xây dựng được các hướng dẫn kỹ thuật bao gồm: Hướng dẫn kỹ thuật điều tra nước dưới đất đô thị; Hướng dẫn bảo vệ nước dưới đất đô thị; Hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng vùng cấm, vùng hạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất; Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng vùng và đới bảo vệ công trình khai thác nước dưới đất; Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng và vận hành mạng quan trắc nước dưới đất trong hệ thống mạng quan trắc tài nguyên nước quốc gia; Hướng dẫn kỹ thuật bổ sung nhân tạo cho nước dưới đất. “Các hướng dẫn kỹ thuật này đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần để các cơ quan nhà nước ban hành hệ thống các quy định kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá ở lĩnh vực điều tra tài nguyên nước dưới đất, đồng thời cũng là các tài liệu hết sức hữu ích trong quá trình triển khai bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn giai đoạn tiếp theo đảm bảo khả thi và hiệu quả” – ông Triệu Đức Huy thông tin.

Tại cuộc họp, ông Tống Ngọc Thanh – Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia nhấn mạnh: Kết quả của Đề án đã đánh giá đầy đủ nhất về hiện trạng tài nguyên nước dưới đất ở các đô thị lớn, đồng thời đề xuất được các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho các đô thị lớn. Đây sẽ là sản phẩm phục vụ hữu ích cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các đô thị trong thời gian tới.

Ông Tống Ngọc Thanh kiến nghị Bộ TN&MT chỉ đạo các đơn vị liên quan sớm hoàn thiện hồ sơ và sản phẩm, đưa vào chương trình hỗ trợ quản lý của Cục quản lý Tài nguyên nước để chuyển giao cho địa phương. Bởi lẽ, qua khảo sát và đánh giá, hiện nay các đô thị Hà Nội, TP.HCM khai thác quá mức. Sản phẩm của đề án này đáp ứng cho việc bảo vệ tài nguyên nước tại các đô thị này. Sau khi hoàn thiện sẽ tổ chức hai đợt bàn giao cho khu vực phía Bắc và phía Nam. Trung tâm kiến nghị  Bộ TN&MT cho phép triển khai tiếp giai đoạn II ở 18 đô thị còn lại.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Thứ trưởng Lê Công Thành đánh giá cao nỗ lực của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia trong việc hoàn thành giai đoạn I của Đề án theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ đề ra. Thứ trưởng Lê Công Thành cũng đề nghị Trung tâm sớm hoàn thiện hồ sơ giai đoạn 1 và xây dưng đề cương giai đoạn 2 trình lãnh đạo Bộ xem xét.

Theo Quyết định phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thời gian thực hiện Đề án từ năm 2013 - 2020, trong đó giai đoạn I thực hiện tại 9 đô thị trọng điểm bao gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Buôn Mê Thuột, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Mỹ Tho. Đây là một Đề án lớn, trọng điểm được Bộ giao cho Trung tâm chủ trì và có sự tham gia của Cục quản lý Tài nguyên nước. Mục tiêu của Đề án này là: Trên cơ sở đánh giá nguồn nước dưới đất ở các đô thị lớn, đề xuất các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm và nhiễm mặn nước dưới đất cho các đô thị lớn.

(Theo nguồn baotainguyenmoitruong.vn)

 

Báo cáo kết quả giai đoạn I đề án bảo vệ nước dưới đất ở các đô thị lớn

 

Tài nguyên nước ngầm đang bị suy nhảm nhanh chóng do bị khai thác quá mức

00033215 medium

Nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức đang suy giảm nhanh chóng, cùng với đó là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt tự do xả ra môi trường không qua xử lý đã dẫn đến tình trạng thiếu nước sạch.

Theo thống kê, bình quân lượng nước nội sinh theo đầu người ở nước ta hiện mới đạt 3.400 m3/năm và đang giảm dần. Nếu tỷ lệ này dưới 4.000 m3/người/năm, quốc gia đó là quốc gia thiếu nước. Nhu cầu nước gia tăng nhanh trong khi nguồn nước đang tiếp tục suy giảm.

Các chuyên gia cảnh báo, an ninh nguồn nước đang là thách thức lớn đối với phát triển kinh tế, xã hội. Ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng cả về mức độ và quy mô. Rừng đầu nguồn suy giảm, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, mặn xâm nhập cũng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động cấp phép, khai thác, sử dụng nước và xả nước thải; đồng thời, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước...

Nhân loại đang cận kề chiến tranh nước sạch?

Giới hoạch định chính sách dự báo, với tình trạng ô nhiễm ngày một nặng, dân số ngày càng tăng và hậu quả do biến đổi khí hậu, nước sạch sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên quý không kém dầu mỏ. Nhưng dầu mỏ có thể thay thế bằng các loại nhiên liệu khác nhiên liệu sinh học, khí đốt... hay điện, còn nước thì không thể thay thế, và trên thế giới, tất cả các dân tộc đều cần đến nó để bảo đảm cuộc sống của mình.

Liên Hiệp Quốc (LHQ) ước tính số dân thế giới sẽ tăng lên 9 tỷ người vào năm 2040, trữ lượng nước ngọt sinh hoạt trên Trái Đất chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu. Các báo cáo về môi trường và phát triển ước tính, 1/8 dân số thế giới - tương đương với gần 1 tỉ người, hiện không có nước sạch để uống, và 1/5 dân số thế giới không có đủ nước sạch dùng trong sinh hoạt.

Các nhà khoa học từ lâu đã tìm kiếm lối thoát cho cuộc khủng hoảng nước sạch, đưa ra những giải pháp táo bạo như tổng hợp nước từ hydro và oxy khí quyển; một số quốc gia xây dựng các trạm nguyên tử để lọc nước biển thành nước ngọt, tuy nhiên, chưa đạt được kết quả mong muốn.

Trong khi đó, nông nghiệp chiếm khoảng 70% tổng lượng nước ngọt toàn cầu thu hồi để đáp ứng nhu cầu lương thực. Các nguồn cung nước ngọt hiện nay trên thế giới sẽ không thể thỏa mãn nhu cầu, đe dọa các nguồn cung lương thực của thế giới và hệ lụy là làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Bên cạnh đó, thiên tai, sự khan hiếm và chất lượng nước giảm, kết hợp với đói nghèo, căng thẳng xã hội, sẽ góp phần làm tăng sự bất ổn, có thể dẫn đến những căng thẳng về chính trị và sự sụp đổ của nhiều quốc gia.

LHQ dự báo đến năm 2025, có khoảng 1,8 tỉ người sống tại các quốc gia hoặc khu vực "hoàn toàn khan hiếm nước" và vào năm 2030, một nửa dân số thế giới sẽ sống trong những vùng căng thẳng do nước, trừ phi thực trạng hiện tại được cải thiện.

Cạnh tranh, giành giật nguồn nước ngọt xuyên quốc gia cũng là một thực trạng ở châu Á - nơi trữ lượng nước ngọt bình quân tính theo đầu người thấp nhất so với các châu lục khác. Cuộc đua giành nguồn nước ngọt ở châu Á đang gây sức ép lên ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, tàn phá hệ sinh thái, đe dọa nghiêm trọng tới hòa bình và ổn định trong dài hạn tại đây.

Theo các dự báo, nguy cơ chiến tranh phát sinh từ nguồn nước trong những năm tới là khá nhỏ. Tuy nhiên, sau 2022, việc sử dụng nước làm vũ khí chiến tranh hoặc công cụ của chủ nghĩa khủng bố sẽ cao hơn 40% so với hiện nay, đặc biệt là ở Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi - những nơi thiếu nước trầm trọng.

Ngay từ 2002, trong một cuốn sách, Viện sĩ người Nga Abalkin đã khẳng định, trên thế giới hiện hữu gần 2.000 điểm có nguy cơ bùng nổ cuộc chiến vì nước sạch. Tháng 4/2012, báo cáo của các cơ quan tình báo Mỹ về an ninh nước sạch nhận định rằng, lũ lụt, hạn hán và thiếu nước ngọt có thể gây ra bất ổn toàn cầu và xung đột vũ trang đáng kể trong các thập niên tới và việc lạm dụng nước có thể đe doạ đến an ninh quốc gia của Mỹ. Các cuộc giao tranh vì nguồn dự trữ nước đã bắt đầu manh nha, tuy còn cục bộ.

LHQ và các tổ chức môi trường toàn cầu đã không ít lần báo động về các nguy cơ của tình trạng khan hiếm nước, kêu gọi thế giới hàng năm dành 198 tỉ USD (tương đương 0,16% GDP toàn cầu) để giảm tình trạng khan hiếm nước và giảm 50% số người trên thế giới không được tiếp cận bền vững các nguồn nước sạch.

Khủng hoảng nguồn nước sẽ dẫn tới khủng hoảng về y tế, nông nghiệp, kinh tế, khí hậu và thậm chí là khủng hoảng về chính trị. Chiến tranh nước sạch là hậu họa tất yếu sẽ xảy ra trong tương lai gần nếu không có quyết sách thích hợp. Chiến tranh nước sạch xảy ra tất yếu sẽ dẫn tới chiến tranh về mọi mặt, thậm chí còn khốc liệt hơn cả cuộc chiến dầu mỏ.

Theo nguồn: Nawapi.gov.vn

 

 

 

 

 

 

Tài nguyên nước ngầm đang bị suy nhảm nhanh chóng do bị khai thác quá mức

 

Diễn đàn Nước thế giới lần thứ 8: Việt Nam coi trọng hợp tác quốc tế và khu vực để chung tay giải quyết các thách thức về tài nguyên nước

01-national-statement-delivery-vice-minister-kien 1Diễn đàn Nước thế giới lần thứ 8: Việt Nam coi trọng hợp tác quốc tế và khu vực để chung tay giải quyết các thách thức về tài nguyên nước.

Từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 3, Đoàn công tác của Bộ Tài nguyên và Môi trường do Thứ trưởng Trần Quý Kiên dẫn đầu tham dự Diễn đàn Nước thế giới (World Water Forum) lần thứ 8 tại Thủ đô Brasillia của Bra-xin theo lời mời của Bộ Ngoại giao Bra-xin.

 

 

 

 

 

Diễn đàn Nước thế giới lần thứ 8: Việt Nam coi trọng hợp tác quốc tế và khu vực để chung tay giải quyết các thách thức về tài nguyên nước

 

Ngày Nước thế giới (22/3): Dựa vào tự nhiên để bảo vệ nguồn nướ

 

 


T5

Năm 2018, Ngày Nước thế giới có Chủ đề là “Nước với Thiên nhiên” nhằm kêu gọi ý thức trách nhiệm của toàn xã hội trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, hiểu đúng mối quan hệ sống còn giữa nguồn nước và thiên nhiên, từ đó, thúc đẩy việc tìm kiếm các giải pháp dựa vào tự nhiên để bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước ngọt.

 

 

 

Ngày Nước thế giới (22/3): Dựa vào tự nhiên để bảo vệ nguồn nướ

 

Ngày Nước thế giới 22/3: Cần tìm “bức tường lửa” ngăn các tác nhân ô nhiễm nguồn nước

1322674402.nv

 Nước – một phần tất yếu của cuộc sống con người. Ở Việt Nam, nhiều giải pháp đã được triển khai song vẫn cần hệ thống giải pháp mang tính triệt để nào bảo vệ nguồn nước trước vấn nạn ô nhiễm gây ra.

 

 

 

 

 

Ngày Nước thế giới 22/3: Cần tìm “bức tường lửa” ngăn các tác nhân ô nhiễm nguồn nước

 
Trang 1234567

Trang 1 trong tổng số 7 trang

Video sự kiện

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Playlist: 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23

Photo 11 30 13 12-01-2018

Photo 11 30 18 12-01-2018

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Tài nguyên và Môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay434
mod_vvisit_counterTrong tuần434
mod_vvisit_counterTrong tháng15051
mod_vvisit_counterTất cả1726952

We have: 17 guests online