|
Cà Mau Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn Cà Mau luôn duy trì ổn định hệ thống cấp nước, mở rộng hạ tầng, bảo đảm nguồn nước sạch phục vụ người dân.
Đảm bảo nguồn nước sạch ổn định cho người dân sống dưới dãy Bạch Mã
Khai thác nước mặt sông Luộc phục vụ sản xuất nước sạch
Lâm Đồng tiết kiệm nước sạch để vững vàng vượt qua cao điểm mùa khô
Trao sinh kế, tiếp sức nước sạch cho người dân vùng khó khăn Lạng Sơn
Ông Trương Quốc Quang, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Cà Mau, cho biết: “Trung tâm luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm là bảo đảm cung cấp nước sạch ổn định, an toàn cho người dân nông thôn. Chúng tôi tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực cấp nước, chủ động rà soát, đầu tư nâng cấp công trình, kịp thời xử lý các sự cố phát sinh để đáp ứng tốt nhu cầu của người dân".
Ngay từ đầu năm 2026, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Cà Mau đã tập trung triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm cấp nước an toàn, ổn định cho người dân. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm được đơn vị xác định trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng và tình hình thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp.
Cà Mau đảm bảo nước sạch phục vụ cho 130.000 hộ dân. Ảnh: Trọng Linh.
Trong quý II năm 2026, Trung tâm tiếp tục duy trì ổn định hoạt động của 151 hệ thống cấp nước tập trung nông thôn. Đến cuối quý, toàn tỉnh Cà Mau có khoảng 130.000 hộ dân đấu nối sử dụng nước sạch, tăng hơn 6.100 hộ so với quý I. Tổng sản lượng nước thương phẩm đạt trên 6,29 triệu m³, tăng gần 600.000 m³; doanh thu đạt gần 39,9 tỷ đồng.
Để bảo đảm nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt, Trung tâm thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động các công trình cấp nước, kịp thời khắc phục sự cố phát sinh. Thời gian qua, đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng công an và ngành điện xử lý 3 trường hợp mất trộm đường dây điện tại các hệ thống cấp nước Biển Đông A, Vĩnh Hậu và Khu tái định cư Hữu Nghị, nhanh chóng khôi phục hoạt động cấp nước cho người dân.
Bên cạnh đó, nhằm chủ động ứng phó với nguy cơ thiếu nước trong mùa khô, Trung tâm đã tham mưu mở rộng Trạm cấp nước xã Hồ Thị Kỷ để hỗ trợ cấp nước cho xã Khánh An; mở rộng Trạm cấp nước xã An Xuyên nhằm tăng khả năng cung cấp nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Đồng thời, phối hợp với Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh An Giang đấu nối tuyến ống cấp nước đến xã Biển Bạch - Tân Bằng, góp phần giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại khu vực ấp Thanh Tùng.
Bên cạnh đó, Trung tâm phối hợp với các địa phương rà soát hiện trạng công trình cấp nước tại những khu vực thường xuyên thiếu nước trong mùa khô để đề xuất phương án đầu tư, nâng cấp phù hợp. Nhiều công trình đang được hoàn thiện hồ sơ và triển khai theo kế hoạch nhằm nâng cao năng lực phục vụ người dân.
Nước sạch góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Ảnh: Trọng Linh.
Không chỉ tập trung quản lý vận hành, Trung tâm còn đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp và mở rộng hệ thống cấp nước nông thôn. Nhiều dự án nâng cấp mạng đường ống, công trình xử lý nước tại các địa phương đang được xúc tiến nhằm nâng cao năng lực cung cấp nước sạch cho người dân vùng sâu, vùng xa.
Theo kế hoạch quý III năm 2026, Trung tâm dự kiến đưa thêm 16 hệ thống cấp nước vào vận hành, nâng tổng số công trình quản lý lên 167 hệ thống. Phấn đấu nâng số hộ đấu nối lên khoảng 132.900 hộ và tiếp tục nâng cao hiệu quả khai thác, vận hành các công trình cấp nước tập trung.
Ông Trương Quốc Quang nhấn mạnh: “Thời gian tới, Trung tâm sẽ tiếp tục tăng cường quản lý, giám sát hoạt động các hệ thống cấp nước; đẩy mạnh phát triển khách hàng, giảm thất thoát nước và tập trung triển khai các dự án đầu tư theo kế hoạch được phê duyệt, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước sạch phục vụ người dân”.
Với những kết quả đạt được, cùng các giải pháp trọng tâm đề ra cho thời gian tới, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Cà Mau đang tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt trong bảo đảm nguồn nước sạch, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển bền vững khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây có tổng vốn hơn 11.600 tỷ đồng, triển khai trên diện tích khoảng 327 ha, đi qua địa bàn 7 xã, phường.
Hà Nội đề xuất 6 giải pháp cứu sông Cầu Bây đang ô nhiễm nặng
Phi công cảm tử Vũ Xuân Thiều - 'tinh cầu bay' trong đêm trắng
HĐND thành phố Hà Nội vừa thông qua Nghị quyết về việc quyết định chủ trương đầu tư Dự án cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây theo phương thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
Đoạn sông Cầu Bây chảy qua Gia Lâm bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ảnh: Nhật Minh.
Dự án nhằm từng bước cụ thể hóa Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; xử lý và cải thiện môi trường, thu gom, xử lý nước thải, khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông Cầu Bây, góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống của khu vực; hoàn thiện hệ thống thoát nước, giảm thiểu úng ngập và nâng cao năng lực tiêu thoát nước cho khu vực.
Dự án được triển khai trên địa bàn 7 xã, phường: Việt Hưng, Phúc Lợi, Bồ Đề, Long Biên, Gia Lâm, Bát Tràng và Thuận An, với thời gian thực hiện giai đoạn 2026-2028. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 11.681 tỷ đồng.
Dự án gồm hai dự án thành phần. Trong đó, dự án thành phần 1 đầu tư xây dựng hệ thống thu gom nước thải dài khoảng 78,2km, đồng thời xây dựng 5 nhà máy xử lý nước thải tại Phúc Đồng, An Lạc, Ngọc Thụy, Đông Dư và Phú Thị; bổ sung 7,1km tuyến thu gom nước thải cho khu vực Ocean Park và vùng phụ cận. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 7.250 tỷ đồng.
Dự án thành phần 2 tập trung cải tạo ô nhiễm dòng sông Cầu Bây trên phạm vi nghiên cứu khoảng 307,9ha, gồm các hạng mục nạo vét, kè sông; xây dựng tuyến cống ngầm bổ cập nước khoảng 0,5km, cải tạo cống đầu kênh; xây dựng trạm bơm với lưu lượng khoảng 5m3/s, hồ lắng bùn diện tích khoảng 10ha; xây dựng tuyến đường giao thông ven sông kết hợp vận hành dài khoảng 14,08km... Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 4.431 tỷ đồng.
Dự án tập trung kiểm soát, xử lý ô nhiễm nước sông Cầu Bây. Ảnh: Hà Kim.
Dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm nhiễm sông Cầu Bây mang ý nghĩa hoàn thiện hệ thống thoát nước, giảm thiểu úng ngập, nâng cao năng lực tiêu thoát nước cho lưu vực, bảo đảm an toàn hạ tầng kỹ thuật và thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh của khu vực.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Ngày 15/6, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định số 2625/QĐ-UBND về danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp trên địa bàn thành phố.
Theo quyết định, có tổng số 245 hồ, ao, đầm, phá trên địa bàn thành phố thuộc diện không được san lấp. Trong đó có nhiều hồ, đập quen thuộc như hồ Đình làng Hải Châu, hồ Đảo Xanh, hồ Công viên 29-3, hồ Vĩnh Trung, hồ Cẩm Kim, hồ Trà Quế, đập Màn, đập Mây, đập Cây Dung...
Ngoài ra, còn có 36 hồ chứa thủy lợi do Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Đà Nẵng quản lý như Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, An Long, Nước Rôn, Trung Lộc... và 31 hồ chứa thủy điện như A Vương, A Vương 3, Sông Tranh 2, Sông Tranh 3, Sông Tranh 4...
Hồ thủy lợi Phú Ninh nằm trong danh mục các ao, hồ, đầm phá không được san lấp.
Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệmcông bố danh mục đến các sở, ban, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan; đồng thời cập nhật vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia theo quy định. Sở Nông nghiệp và Môi trường đồng thười trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương rà soát, tham mưu UBND TP điều chỉnh, bổ sung danh mục định kỳ 5 năm một lần hoặc khi cần thiết.
UBND TP Đà Nẵng giao UBND các xã, phường thông báo, phổ biến nội dung quyết định đến các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý hồ, ao, đầm, phá thuộc danh mục; đồng thời tăng cường tuyên truyền để người dân không xả chất thải chưa qua xử lý vào các thủy vực, không tự ý san lấp hoặc cải tạo hồ, ao, đầm, phá gây ảnh hưởng đến môi trường và nguồn nước. Các địa phương cũng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm; rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung danh mục đối với các hồ, ao, đầm, phá trên địa bàn theo quy định.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu 29 địa phương cần đẩy nhanh tiến độ kiểm kê tài nguyên nước năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trườngvừa có công văn số 5506/BNNMT-TNN gửi UBND các tỉnh, thành phố yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành tổng hợp kết quả kiểm kê tài nguyên nước năm 2026.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua, nhiều địa phương đã tích cực triển khaikiểm kê tài nguyên nướcđối với nguồn nước nội tỉnh và hoạt động khai thác, sử dụng thuộc phạm vi quản lý. Tuy nhiên, tiến độ chung vẫn còn chậm so với yêu cầu đề ra.
Bộ NN-MT yêu cầu 29 địa phương đẩy nhanh kiểm kê tài nguyên nước. Ảnh: NNMT.
Tính đến nay, mới chỉ có 5/34 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ kiểm kê theo phạm vi hành chính mới và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm: Đồng Tháp, Lai Châu, Thanh Hóa, Lạng Sơn và TP. Hồ Chí Minh. Còn lại 29 địa phương chưa hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu.
Để bảo đảm tiến độ thực hiện Đề án kiểm kê tài nguyên nước quốc gia do Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương vào cuộc.
Cụ thể, đối với 29 tỉnh, thành phố chưa hoàn thành, UBND các địa phương cần chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh tiến độ kiểm kê, sớm hoàn thành và gửi kết quả về Bộ, đồng thời cập nhật đầy đủ dữ liệu lên phần mềm kiểm kê tài nguyên nước.
Đối với 5 địa phương đã hoàn thành, Bộ yêu cầu tiếp tục phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước để rà soát, cập nhật và hoàn thiện dữ liệu theo yêu cầu mới, bảo đảm đồng bộ, chính xác.
Việc kiểm kê tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng trong quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiết yếu này, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn.
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 1] Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 2] ‘Vòng xoáy suy thoái’ khó đảo ngược
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’
Trước đây, giới chuyên môn thủy lợi không hề nghĩ đến việc xây dựng cống ở các cửa sông lớn với độ sâu hơn 10m và nền đất yếu, vì theo công nghệ cống truyền thống thì không thể làm khô hố móng; còn theo công nghệ nước ngoài thì nền kinh tế nước ta thời nào cũng không đáp ứng được.Tình trạng này từng là "nút thắt" khiến tư duy quy hoạch thủy lợi ĐBSCL bị giới hạn ở các cống nội đồng quy mô vừa và nhỏ. Nhưng tình hình đã thay đổi căn bản trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông lớn.
Công nghệ đập trụ đỡ thi công tại chỗĐập trụ đỡ là sáng chế Việt Nam được cấp bằng độc quyền số 6601 năm 2007, đã được kiểm chứng qua hơn 30 cống ngăn sông lớn vùng đồng bằng ven biển - tiêu biểu là cống Thảo Long 500m (TP Huế, 2004) và Cái Lớn - Cái Bé 450m (An Giang, 2022).Đặc trưng then chốt là thi công trong dòng chảy: từng trụ độc lập bê tông cốt thép ngàm vào nền qua hệ cọc đóng sâu trong khung vây cọc ván thép, kết hợp tường cừ chống thấm theo đường viền đứng và thảm đá chống xói; tiết diện thoát nước qua công trình bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Giữa các trụ lắp cửa van hiện đại rộng 40-60m điều khiển bằng xi-lanh thủy lực. Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.
Ưu thế nổi bật của đập trụ đỡ là khả năng kết hợp cầu giao thông trên cùng kết cấu trụ đỡ - giảm đáng kể chi phí so với xây cầu riêng và đặc biệt phù hợp nền đất yếu đáy sông ĐBSCL. Vì tính an toàn và đã chứng minh, đập trụ đỡ được chọn làm xương sống cho 4/7 cửa cần kết hợp cầu hoặc cảng cố định: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cổ Chiên/Cung Hầu và Trần Đề. Cửa Tiểu (khẩu độ 600-1.000m) là công trình được ưu tiên triển khai sớm trong thời gian tới, cho phép kế thừa kinh nghiệm trực tiếp và đẩy nhanh tiến độ triển khai.
Công nghệ đập hộp chìm
Đập hộp chìm là sáng chế Việt Nam đang trong giai đoạn nghiên cứu - thiết kế, được đề xuất để xây cống thủy lợi lớn cố định ở lòng sông sâu vùng đồng bằng ven biển, với mục tiêu thi công nhanh và giá thành rẻ hơn đập trụ đỡ.
ĐHC gồm nhiều đơn nguyên dạng hộp chữ nhật rỗng bằng bê tông cốt thép mác cao (chiều dài B vuông góc dòng chảy có thể đạt vài trăm mét), được chế tạo trong hố đúc tại bãi/nhà máy, làm nổi và lai dắt đến vị trí xây dựng, rồi hạ chìm sát đáy sông để làm cống vĩnh viễn. Ổn định công trình do trọng lượng G và chiều rộng L quyết định theo các nguyên lý chống lật, trượt, lún và thấm.
ĐHC có hai loại theo độ sâu: loại 1 tầng cho H<12m và loại 2 tầng có sàn trung gian cho H>12m; sàn đỉnh có thể tận dụng làm cầu giao thông. So với đập trụ đỡ, đập hộp chìm bỏ được các hạng mục thi công khó khăn dưới sông sâu (khung vây cọc ván thép, trụ chịu lực bằng hệ cọc, thảm chống xói riêng), do đó giảm đáng kể chi phí và rút ngắn thời gian thi công.
Đập hộp chìm được đề xuất cho 2/7 cửa: Hàm Luông (loại 2 tầng, sâu 12-15m - là cửa rộng và sâu nhất hệ thống, nơi đập trụ đỡ sẽ tốn kém quá mức) và Định An (loại 1 tầng - độ sâu nhỏ 3-4m do bồi lắng đặc biệt thuận lợi cho dìm khối hộp). Tác giả bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu - phát triển hợp tác với Hà Lan và Bỉ - những quốc gia có kinh nghiệm khối hộp chìm quy mô lớn nhất - để đưa công nghệ này từ thiết kế sang triển khai thực địa, lấy Định An làm công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông.
Công nghệ đập tàu thủy
Đập tàu thủy là sáng chế Việt Nam đang được nghiên cứu, phù hợp với sông sâu không có quy hoạch cầu giao thông cố định và chỉ cần kiểm soát mặn mùa khô. Khác biệt căn bản so với đập trụ đỡ và đập hộp chìm: Đập tàu thủy là công trình di động - lắp dựng đầu mùa khô, cuối mùa khô hút hết nước trong lòng đơn nguyên cho nổi lên và di dời về nơi cất giữ, hoặc chỉ lắp khi có dự báo hạn cực đoan. Nguyên lý chế tạo gần giống đập hộp chìm (hộp bê tông cốt thép trong hố đúc - làm nổi - di dời - hạ chìm) nhưng kết cấu trong lòng đơn nguyên đơn giản hơn (chỉ có thanh dàn để ổn định, không chia khoang), bên dưới đáy có lớp cao su chống dính khi làm nổi trở lại.
Phạm vi áp dụng: sông chiều rộng dưới 400m mỗi đơn nguyên, ghép 1-2 đơn nguyên cho sông trung bình. Ưu điểm nổi bật là chi phí thấp nhất trong ba công nghệ do bỏ được hệ cọc chịu lực, khung vây cọc ván thép và thảm chống xói; mùa mưa lòng sông hoàn toàn tự nhiên không có công trình; có thể tái sử dụng cho nhiều vị trí.
Đập tàu thủy được đề xuất cho cửa Ba Lai (khẩu độ tự nhiên ~544m, sâu ~5 m) - kết hợp cải tạo cống Ba Lai cũ (84m, 2002) thành hệ thống kiểm soát mặn theo nguyên lý mở - thường, đóng - khi cần, đồng thời làm bãi thử nghiệm quy mô vừa cho công nghệ trước khi xem xét nhân rộng. Ba Lai là công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông cho công nghệ này giai đoạn 2030-2040, sau khi mô hình thử nghiệm quy mô vài trăm mét tại kênh - cống ngoài hệ thống đã thành công.
Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.
Bằng việc kết hợp linh hoạt ba công nghệ trên cho các cửa sông, ước tính tổng vốn đầu tư cho hệ thống khoảng 5-10 tỷ USD (ước tính sơ bộ của tác giả; có tham chiếu với một số công trình khác). So với thiệt hại tránh được khoảng 70.000 tỷ VND/năm (~2,88 tỷ USD/năm) hiện nay và còn tăng trong tương lai, thời gian hoàn vốn kinh tế ròng chỉ khoảng 8-15 năm - một mức hiệu quả đầu tư rất cao theo chuẩn các dự án hạ tầng quốc gia. Đặc biệt nếu tính cả các giá trị gián tiếp (cảng biển, cầu giao thông, năng lượng thủy triều, phục hồi sinh thái), tỷ lệ B/C có thể đạt 3-5 lần.
Qua các phân tích của bài báo này, câu hỏi được đặt ra có lẽ không phải là “có nên can thiệp công trình hay không” mà là “can thiệp theo cách nào để giải quyết được nguyên nhân gốc rễ”. Các quan ngại cần được đối thoại nghiêm túc trên cơ sở khoa học, không phải bác bỏ. Đề xuất CTKSNN không phủ định các giải pháp "thuận thiên" và không định vị mình là giải pháp thay thế. Ngược lại, CTKSNN được hiểu là điều kiện đủ về mặt thủy văn, đảm bảo dòng nước ngọt mùa khô để các giải pháp mềm (chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, lúa - tôm, trữ nước phân tán, kiểm soát khai thác nước ngầm, ngoại giao Mekong) có cơ sở vật chất phát huy hiệu quả trong những năm cực đoan.
Có quan ngại cho rằng, việc xây dựng các CTKSNN sẽ cản trở di cư của các loài cá và giao thông thủy. Đây là quan ngại sinh thái chính đáng. Tuy nhiên, công trình hiện đại đều có âu tàu hiện đại, thang cá và âu cá tích hợp. Hơn nữa, do CTKSNN có tiết diện bằng lòng sông, lại được mở theo yêu cầu môi trường, di cư cá vẫn diễn ra tự nhiên trong 90-95% thời gian. Khi đóng cửa van trong những giờ cao điểm triều mặn, các thiết kế "thân thiện với cá" như cửa quay xiên, lạch phụ thông qua được áp dụng để giảm thiểu cản trở. Bài học từ Hà Lan, Đức, Anh cho thấy có thể duy trì 70-80% lưu lượng di cư cá tự nhiên qua thiết kế tốt.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong
|
|