|
Nghệ An tăng cường quản lý, giám sát vận hành hồ chứa và liên hồ chứa nhằm ứng phó thiên tai, giảm thiểu ngập lụt, bảo đảm an toàn cho người dân vùng hạ du.
Tăng 'sức đề kháng' trước thiên tai
Ngóng điện, chờ nước để về nhà mới
Gian nan nơi 4 bản vùng cao sau lũ dữ
Bão số 5 càn quét: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh tan hoang sau một đêm
Tại phiên chất vấn của Kỳ họp thứ 35, HĐND tỉnh Nghệ An khóa XVIII, nội dung về hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, phục hồi sinh kế bền vững tiếp tục thu hút nhiều sự quan tâm của đại biểu và cử tri. Trong đó, vấn đề quản lý, giám sát vận hành hồ chứa và liên hồ chứa - yếu tố có tính quyết định trong việc phòng chống lũ, giảm thiểu thiệt hại vùng hạ du được đặt ra với nhiều câu hỏi sâu sát, phản ánh những băn khoăn chính đáng từ thực tiễn sau các đợt mưa lũ lớn năm 2025.
Làm rõ trách nhiệm và tăng cường kiểm soát vận hành hồ chứa
Đại biểu Nguyễn Thị Thúy An (Tổ đại biểu số 19) đã chất vấn về công tác quản lý, theo dõi và điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa trước những thiệt hại nặng nề do ngập lụt tại miền Tây Nghệ An. Trả lời nội dung này, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Quốc Việt cho biết, toàn tỉnh Nghệ An hiện có 23 hồ thủy điện và 2 hồ thủy lợi lớn (Sông Sào, Vực Mấu), tất cả đều có đầy đủ phương án phòng chống thiên tai, bảo vệ đập và ứng phó khẩn cấp. Đồng thời, hai quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Cả và sông Mã đã được Thủ tướng phê duyệt, tạo cơ sở quan trọng cho việc điều tiết lũ.
Lũ về rất lớn trên sông Lam do ảnh hưởng của cơn bão số 3 vào tháng 7/2025. Ảnh: Đình Tiệp.
Theo Giám đốc Hoàng Quốc Việt, các Sở, ngành cấp tỉnh đã chủ động phối hợp chặt chẽ trong theo dõi, giám sát vận hành, đặc biệt là ban hành văn bản chỉ đạo ngay từ đầu năm để đảm bảo quy trình xả lũ phù hợp, kịp thời. Ông nhấn mạnh, công tác chỉ đạo sớm và nhanh trong vận hành hồ chứa là yêu cầu bắt buộc, bởi khi mưa lớn diễn ra tại miền Tây Nghệ An kết hợp với lượng nước từ Lào đổ về, bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể gây thiệt hại rất lớn cho vùng hạ du.
Trước những diễn biến thiên tai cực đoan, mưa lũ năm 2025 vượt ngưỡng lịch sử, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An đang phối hợp Sở Công Thương rà soát lại toàn bộ quy trình vận hành, làm cơ sở tham mưu điều chỉnh phù hợp hơn với bối cảnh biến đổi khí hậu.
Đại biểu chất vấn tại cuộc họp. Ảnh: Thành Cường.
Trả lời ý kiến đại biểu Lục Thị Liên về tình trạng xả lũ ban đêm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An cho biết nguyên nhân chủ yếu do lũ ống, lũ quét bất ngờ, khó dự báo. Tuy nhiên, thời gian tới, ngành sẽ tiếp tục kiến nghị hoàn thiện quy trình và tăng cường kiểm soát để giảm tối đa rủi ro cho vùng hạ du.
Hiệu chỉnh quy trình vận hành, bảo đảm phù hợp hơn với thực tế
Làm rõ thêm về công tác giám sát vận hành hồ chứa, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Nghệ An Phạm Văn Hóa cho biết trước mỗi mùa mưa lũ, UBND tỉnh Nghệ An giao Sở Công Thương chủ trì thành lập đoàn kiểm tra liên ngành nhằm đánh giá toàn diện phương án ứng phó thiên tai tại tất cả hồ đập trên địa bàn. Trong thời điểm xảy ra thiên tai, tỉnh triển khai giám sát trực tuyến thông qua hệ thống quan trắc số tự động đặt tại các hồ chứa; đồng thời cử lực lượng giám sát trực tiếp, theo dõi việc thực hiện phương án phòng chống thiên tai.
Ông Phạm Văn Hóa, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Nghệ An trả lời chất vấn. Ảnh: Thành Cường.
Ngay sau lũ, các đoàn công tác tiếp tục được thành lập để đánh giá lại quá trình vận hành và mức độ thiệt hại nhằm rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh phương án trong thời gian tới. Đây là quy trình khép kín, đảm bảo tính giám sát nhiều tầng nhằm hạn chế nguy cơ sai sót trong vận hành.
Giám đốc Sở Công thương tỉnh Nghệ An cũng chia sẻ băn khoăn của cử tri về việc quy trình vận hành hồ chứa đã thực sự tối ưu hay chưa. Ông cho biết: Các phương án vận hành được xây dựng dựa trên dữ liệu thủy văn quá khứ; tuy nhiên biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra với tần suất dày hơn khiến việc dựa vào số liệu lịch sử không còn đảm bảo chính xác tuyệt đối. Vì vậy, ngành Công Thương đang cập nhật lại số liệu thủy văn, tham mưu các cơ quan chức năng hiệu chỉnh quy trình vận hành, bảo đảm phù hợp hơn với thực tế mới.
Kiểm tra công tác vận hành hồ thủy điện Bản Vẽ. Ảnh: EVNGENCO1.
Một nội dung quan trọng được ông Phạm Văn Hóa nhấn mạnh là vai trò của chính quyền cơ sở. Cấp xã là nơi nắm sát địa bàn, trực tiếp triển khai ứng phó, hỗ trợ người dân khi có sự cố. Do đó, tỉnh Nghệ An cần đánh giá lại khả năng ứng phó ở cấp xã về con người, trang thiết bị và phương án hành động để có hướng đầu tư, bổ sung, nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai từ cơ sở.
Việc tăng cường giám sát, chủ động rà soát và điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa tại Nghệ An cho thấy quyết tâm của tỉnh trong bảo đảm an toàn, giảm thiểu thiệt hại cho người dân vùng hạ du trước diễn biến phức tạp của thiên tai. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng sâu sắc, yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý hồ chứa là phải liên tục cập nhật, linh hoạt, khoa học và chặt chẽ hơn, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản và duy trì phát triển bền vững cho tỉnh trong những năm tới.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Ô nhiễm sông hồ gia tăng cần thiết phải đánh giá sức chịu tải để kiểm soát xả thải, bảo vệ chất lượng nước và tạo nền tảng phát triển đô thị xanh, bền vững.
Đánh giá sức chịu tải các lưu vực sông
Gia Lai: Đánh giá sức chịu tải môi trường và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm lưu vực sông
Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước 3 lưu vực sông
Tổng cục Môi trường sẽ tập trung xử lý chất thải rắn, ô nhiễm không khí, nguồn nước
Tình trạng ô nhiễm sông, hồ đang trở thành thách thức lớn đối với nhiều địa phương. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, việc đánh giá khả năng chịu tải của sông để biết được mức ô nhiễm tối đa mà dòng nước có thể tiếp nhận mà vẫn tự làm sạch được coi là giải pháp quan trọng để phát triển đô thị xanh và bền vững.
Nhiều sông ô nhiễm vượt ngưỡng
Sông Phan bắt nguồn từ dãy Tam Đảo, chảy qua nhiều xã của tỉnh Phú Thọ. Đây là nguồn nước quan trọng cho tưới tiêu và thoát lũ. Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Phúc (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ), nhiều năm qua, sông chịu áp lực lớn từ nước thải sinh hoạt chưa xử lý, nước thải công nghiệp, làng nghề và dư lượng hóa chất nông nghiệp.
Một số dòng sông ở nước ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Ảnh: Minh Anh.
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) trong khuôn khổ dự án “Lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh” do Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chủ trì, nhiều đoạn sông Phan đã vượt ngưỡng chịu tải, đặc biệt tại khu vực đô thị Vĩnh Yên. Đầm Vạc - hồ nước nội đô cũng có khả năng tự làm sạch hạn chế, nhất là vào mùa khô.
Kết quả quan trắc của Dự án cho thấy các thông số Amoni, Nitrit và kim loại nặng tại nhiều điểm vượt quy chuẩn QCVN 08-MT:2023/BTNMT, tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái. Một số đoạn sông thậm chí không còn khả năng tiếp nhận thêm nước thải nếu không được xử lý đạt chuẩn.
Thực trạng này không chỉ xảy ra tại Phú Thọ mà còn ở nhiều đô thị nơi Dự án đang triển khai như Ninh Bình, Huế và Hà Tĩnh. Tại Ninh Bình, theo báo cáo chất lượng môi trường khu vực miền Bắc tháng 8/2025 của Cục Môi trường, lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang ô nhiễm nghiêm trọng, với chất lượng nước ở mức xấu đến rất xấu.
Mặt khác, theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cũng chỉ ra rằng, nhiều đoạn sông thuộc các hệ thống sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, Hương, Tô Lịch, Kim Ngưu… có chỉ số chất lượng nước rất thấp (WQI ≤ 30), phản ánh tình trạng ô nhiễm kéo dài và yêu cầu các giải pháp cải thiện cấp bách.
Đánh giá khả năng chịu tải, yêu cầu không thể trì hoãn
Đánh giá khả năng chịu tải giữ vai trò trung tâm trong quản lý tài nguyên nước. Đây là cơ sở để xác định ngưỡng xả thải tối đa cho từng đoạn sông, đồng thời phân vùng và khoanh định những đoạn còn khả năng tiếp nhận hay đã vượt tải. Công việc này có ý nghĩa then chốt trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước.
Kết quả đánh giá giúp cơ quan quản lý xác định mức tải lượng tối đa mà sông có thể tiếp nhận, làm căn cứ cấp phép xả thải, điều chỉnh quy hoạch phát triển và hạn chế tình trạng môi trường bị quá tải. Đồng thời, hỗ trợ nhận diện các đoạn sông ô nhiễm, ưu tiên phục hồi và bố trí nguồn lực phù hợp. Đây cũng là công cụ quan trọng giúp các địa phương ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững lưu vực.
Tại Phú Thọ, mô hình động QUAL2K đã được áp dụng để mô phỏng khả năng chịu tải của sông Phan và Đầm Vạc với các thông số DO, BOD, Amoni, Nitrat, Photphat… Kết quả mô phỏng cho thấy rõ các đoạn sông đã quá tải, từ đó đề xuất phương án xử lý, phân vùng xả thải và xây dựng hạ tầng môi trường phù hợp. Đây là bước chuyển quan trọng, từ bị động xử lý sau ô nhiễm sang chủ động kiểm soát trước ô nhiễm.
Các chuyên gia kiến nghị cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về đánh giá sức chịu tải của các dòng sông. Ảnh: Minh Anh.
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, nếu không đánh giá và quản lý sức chịu tải, việc xử lý ô nhiễm chỉ là giải pháp ngắn hạn, không đủ để “cứu” các dòng sông đang bị bức tử bởi nước thải chưa xử lý.
Cần mở rộng đánh giá sông hồ trên toàn quốc
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đánh giá khả năng chịu tải đã trở thành công cụ quản lý bắt buộc. Tại Hoa Kỳ, khung quy định về “tổng tải lượng tối đa cho phép” được triển khai theo Đạo luật Nước sạch, giúp xác định khả năng tiếp nhận ô nhiễm của dòng sông và đưa ra mức xả thải tối đa cho từng nguồn.
Nhật Bản áp dụng chính sách đồng bộ ở cấp trung ương và địa phương. Việc đánh giá khả năng chịu tải gắn liền với bản đồ GIS và mô hình hóa lan truyền ô nhiễm để xác định “các vùng xả thải ưu tiên”.
Liên minh châu Âu triển khai Chỉ thị khung về nước, yêu cầu các quốc gia thành viên đánh giá toàn diện chất lượng nước, xác định mục tiêu và lập kế hoạch quản lý theo chu kỳ 6 năm. Điều này tạo ra sự phối hợp xuyên biên giới trong quản lý lưu vực sông, đặc biệt ở các hệ thống sông liên quốc gia như Danube.
Các nước như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan cũng đã áp dụng chỉ số WQI (Water Quality Index) để đánh giá chất lượng nước một cách dễ hiểu và phổ biến với cộng đồng, đồng thời sử dụng hệ thống giám sát tự động và ứng dụng công nghệ GIS để xác định điểm nóng ô nhiễm.
Ở Việt Nam, việc đánh giá sức chịu tải của các dòng sông đã được quy định và bước đầu triển khai ở một số địa phương. Tuy nhiên, năng lực mô hình hóa còn hạn chế, dữ liệu chưa đồng bộ, chưa có hướng dẫn kỹ thuật thống nhất và cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông.
Các chuyên gia dự án “Lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh” kiến nghị cần sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật thống nhất về đánh giá sức chịu tải, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cấp phép môi trường. Song song, phải xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp chất lượng nước, nguồn thải và kết quả mô hình hóa; mở rộng thí điểm mô hình quản lý tích hợp lưu vực sông tại các đô thị; tăng cường năng lực mô hình hóa, phân tích dữ liệu cho địa phương; và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, chuyển giao công nghệ.
Đánh giá khả năng chịu tải không chỉ là một quy trình kỹ thuật mà là chiến lược quản lý dài hạn, giúp phục hồi hệ sinh thái sông, bảo đảm an ninh nguồn nước và tạo nền tảng cho phát triển đô thị xanh, bền vững.
Nếu không sớm đánh giá và quản lý khả năng chịu tải, nhiều dòng sông khác cũng sẽ đi vào vết xe đổ, trở thành nơi tiếp nhận nước thải không giới hạn, mất khả năng tự làm sạch và kéo theo hệ lụy môi trường - xã hội nghiêm trọng.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
LÀO CAI Hàng chục công trình thủy lợi bị tàn phá do mưa lũ, người dân đang mong mỏi được đầu tư khắc phục sớm để những cánh đồng ở Việt Hồng không còn khát nước.
Trận lũ quét lịch sử do ảnh hưởng của cơn bão số 10 năm 2025 không chỉ cuốn trôi nhà cửa, tài sản, hoa màu… của người dân xã Việt Hồng (tỉnh Lào Cai) mà còn tàn phá hệ thống thủy lợi làm hàng loạt công trình bị đứt gãy, bồi lấp. Giờ đây, khi vụ đông xuân đã cận kề, chính quyền, ngành chức năng và người dân nơi đây đang phải chạy đua với thời gian, nỗ lực vượt khó để khơi thông dòng nước, cứu vãn một vụ sản xuất thiếu nước nghiêm trọng.
Công trình thủy lợi Ngòi Vần, xã Việt Hồng bị hư hỏng nghiêm trọng do mưa lũ. Ảnh: Thanh Tiến.
Chúng tôi tìm đến thôn Gò Cấm, một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề do thiên tai. Dẫn chúng tôi ra xem tuyến kênh mương Thác Quẽ thuộc công trình thủy lợi Ngòi Vần, anh Trần Đình Trung không giấu nổi vẻ lo lắng. Công trình thủy lợi vốn cung cấp nước tưới cho cả khu vực nay đã bị sạt lở, đứt gãy nghiêm trọng.
Anh Trung ngao ngán với nỗi lo vụ sản xuất tới nơi mà đồng ruộng khô khốc: “không có nước thì khó khăn lắm, trồng rau màu cũng không được. Mương máng sạt lở như thế, đến vụ tới mà không kịp sửa chữa thì không cày bừa, cấy hái được gì đâu, lại đói thôi".
Thiệt hại từ đợt lũ do hoàn lưu bão số 10 khiến gia đình anh Trung phải tạm bỏ không mấy ao nuôi cá, đến giờ vẫn chưa khắc phục được vì thiếu nước. Giờ đây, niềm hy vọng duy nhất của gia đình là gần 7 sào ruộng cấy lúa, trồng rau cũng chưa thể tái sản xuất ngay được.
Hàng chục ha đất nông nghiệp không thể gieo trồng cây màu vụ đông do kênh mương hư hỏng. Ảnh: Thanh Tiến.
Cùng chung nỗi trăn trở, ông Hoàng Ngọc Khoa, Bí thư Chi bộ thôn Gò Cấm, xã Việt Hồng cho biết, công trình thủy lợi Ngòi Vần dẫn nước từ đập Thác Quẽ là nguồn sống chính của cả thôn. Riêng trong thôn, công trình này phục vụ tưới tiêu cho 14ha đất 2 vụ lúa và gần 10ha nuôi trồng thủy sản. Nhưng cơn bão số 10 đã làm gãy sập, sạt lở mấy chục mét kênh mương ở đầu mối. Hiện không thể dẫn nước tưới về sản xuất cho bà con.
Theo ông Khoa, vụ đông này người dân dự định làm ngô, rau màu các loại, nhưng vì không có nước nên đa phần bỏ không đồng ruộng, chỉ lác đác một vài hộ trồng ngô đông. Nếu đất nông nghiệp mà không cấy được lúa, chúng tôi cũng phải đề nghị cấp trên xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Mong muốn lớn nhất bây giờ là Nhà nước tạo điều kiện sửa chữa nhanh để người dân kịp thời vụ gieo cấy lúa vụ đông xuân tới.
Các điểm thiệt hại nặng nằm ở vị trí hiểm trở, việc khắc phục rất khó khăn. Ảnh: Thanh Tiến.
Tình trạng thiếu nước sản xuất không chỉ diễn ra ở thôn Gò Cấm. Cơn lũ lịch sử đã khiến hệ thống thủy lợi của xã Việt Hồng bị tổn hại nghiêm trọng. Theo thống kê, có tới 15/25 công trình thủy lợi trên địa bàn xã bị hư hỏng ở nhiều mức độ khác nhau.
Trao đổi với chúng tôi, bà Bùi Thị Thanh Hà, Cụm trưởng phụ trách xã Việt Hồng (Công ty TNHH Tân Phú) cho biết, lượng mưa xối xả do hoàn lưu bão đã gây lũ quét, ngập úng, làm hư hỏng nhiều công trình. Điển hình là công trình thủy lợi Ngòi Vần, vốn cung cấp nước tưới cho hơn 110ha đất sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi thủy sản. Công trình nay đã bị sạt taluy dương, vỡ và bồi lấp kênh chính, sập gãy kênh cấp 1. Ngoài ra, một số công trình thủy lợi khác như Khe Thao, Đát Lỏng, Nhiêu Năm 1, Nhiêu Năm 2, Khe Rin, Ngòi Ác... cũng bị đất đá bồi lấp đầu mối, gãy hỏng kênh dẫn.
"Hiện trạng hư hỏng chủ yếu là do đất đá từ lòng suối, trên khe đồi chảy xuống làm bồi lấp công trình đầu mối, sạt taluy vùi lấp, gãy hỏng kênh. Hiện tại, các công trình này không thể dẫn được nước phục vụ sản xuất vụ đông", bà Hà cho biết.
Ngay sau lũ, Công ty TNHH Tân Phú đã huy động nhân lực thực hiện các giải pháp khắc phục tạm thời. Đơn vị đã tổ chức nạo vét công trình đầu mối, kênh dẫn bằng thủ công, lắp đặt các đường ống (ống thép, ống HDPE D200) thay thế các tuyến kênh bị vùi lấp, gãy hỏng để cố gắng cấp nước sớm nhất cho bà con.
Tuy nhiên, việc khắc phục gặp rất nhiều khó khăn do địa hình hiểm trở, khối lượng thiệt hại quá lớn. Về lâu dài, các đoạn kênh bê tông bị gãy hỏng, các điểm sạt lở lớn cần nhà nước đầu tư kinh phí để gia cố, xây dựng lại mới có thể đảm bảo an toàn.
Người dân mong mỏi hệ thống thủy lợi sớm được sửa chữa để gieo cấy lúa vụ đông xuân và khôi phục nuôi thủy sản. Ảnh: Thanh Tiến.
Ông Nguyễn Tiến Chiển, Chủ tịch UBND xã Việt Hồng cho biết thêm, giải pháp trước mắt đối với những đoạn mương bị đứt gãy thì sẽ tạm thời lắp hệ thống ống nhựa tạm thời để đảm bảo dẫn nước. Đây là giải pháp tình thế nhưng vô cùng quan trọng để cứu vụ đông xuân.
Về lâu dài, UBND xã Việt Hồng và Công ty TNHH Tân Phú tổng hợp toàn bộ thiệt hại, báo cáo tỉnh Lào Cai xem xét cấp kinh phí để xây dựng, nâng cấp, sửa chữa lại, đảm bảo phục vụ lâu dài cho bà con.
Nước chưa thể về ngay với những cánh đồng ở Việt Hồng, nhưng những nỗ lực vá mương, lắp ống tạm thời trong điều kiện địa hình hiểm trở, nguồn lực hạn chế đang thể hiện tinh thần vượt khó của địa phương và đơn vị quản lý. Để đảm bảo cấp nước sản xuất hiệu quả lâu bền, người dân đang mong mỏi được đầu tư kinh phí nối lại những huyết mạch thủy lợi nhanh nhất, không chỉ để cứu một vụ mùa, mà còn để ổn định sinh kế sau cơn lũ dữ.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Đợt mưa lũ cuối tháng 10 đã gây hư hỏng nhiều công trình thủy lợi tại Đà Nẵng. Địa phương đang tập trung đánh giá thiệt hại và triển khai các giải pháp khắc phục.
Đào tạo thủy lợi thông minh, công nghệ bán dẫn nâng tầm trường đầu ngành
Những công trình thủy lợi kỳ vỹ ở Đồng bằng sông Cửu Long
'Bắt mạch' vi phạm công trình thủy lợi ở Hà Tĩnh: Xử lý... nhỏ giọt!
Đầu tư ngay cho hệ thống thủy lợi nội đồng
Nhiều hư hỏng
Mưa lớn cuối tháng 10 đã gây ra hàng loạt điểm sạt lở nghiêm trọng trên hệ thống thủy lợi của xã Duy Xuyên (TP Đà Nẵng), đe dọa trực tiếp đến sản xuất vụ đông xuân 2025-2026. Tại khu vực kè cầu Đập Bầu, nước lũ làm xói lở hơn 60m bờ kè, cuốn trôi khoảng 850m³ đất, ảnh hưởng hơn 6ha lúa của người dân thôn Trung Đông.
Đặc biệt, gần 5.000m³ đất bồi lấp hai bên bìa ruộng khiến nhiều diện tích không thể canh tác, nguy cơ người dân phải bỏ vụ. Điểm sạt lở cũng đã áp sát trụ điện cao thế 220V, chỉ còn chưa đầy 3m, tiềm ẩn rủi ro mất an toàn rất lớn nếu tiếp tục mưa lớn.
Hệ thống kênh mương thủy lợi tại xã Duy Xuyên bị bồi lấp, hư hỏng đe dọa nguồn nước tưới phục vụ sản xuất vụ đông xuân. Ảnh: Lan Anh.
Không chỉ Đập Bầu, tuyến kênh thủy lợi Minh Khánh (thôn An Hòa) dài 1,5km cũng bị sạt taluy âm tại 5 vị trí, tổng chiều dài 37m, khối lượng đất bị cuốn trôi lên đến 288m³. Tình trạng này làm gián đoạn dòng chảy, ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 30ha lúa và hoa màu, đe dọa nguồn nước tưới cho vụ sản xuất sắp tới.
Ông Nguyễn Bảo, Giám đốc HTX nông nghiệp Duy Trung 1, lo lắng: “Năm nay là lần đầu tiên kênh Minh Khánh bị sạt lở nặng như vậy. Nếu không khắc phục kịp thời, 120 hộ dân sẽ bị ảnh hưởng nặng nề”.
Tại thôn Chiêm Sơn Đông, đập Đồng Quảng - công trình thủy lợi quan trọng phục vụ tưới cho 60ha lúa và hoa màu của hai thôn Chiêm Sơn Đông và Trà Kiệu Tây cũng bị sạt lở hơn 15m. Theo ông Nguyễn Văn Sáu, Phó Giám đốc HTX Duy Sơn, từ năm 2020 đến nay, đập này đã ba lần bị sạt, địa phương chỉ có thể gia cố tạm bằng đất đầm chặt hoặc bê tông những vị trí xuống cấp, nhưng về lâu dài vẫn cần nguồn vốn lớn để sửa chữa căn cơ.
Nếu không sớm khắc phục hệ thống công trình thủy lợi bị hư hỏng sau lũ, vụ đông xuân của xã Duy Xuyên có nguy cơ không thể sản xuất. Ảnh: Lan Anh.
Thống kê cho thấy đợt mưa lịch sử đã gây thiệt hại hơn 41,5 tỷ đồng tại xã Duy Xuyên, trong đó riêng hệ thống thủy lợi, trạm bơm, kênh mương và bờ kè thiệt hại hơn 5,6 tỷ đồng.
Khẩn trương sửa chữa
Ông Nguyễn Chí Công, Phó Chủ tịch UBND xã Duy Xuyên cho biết, thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ 4 tỷ đồng để địa phương triển khai các hạng mục cấp bách sau đợt mưa lũ cuối tháng 10. Trên cơ sở nguồn kinh phí này, xã ưu tiên khắc phục những điểm sạt lở nặng nhằm bảo đảm giao thông thông suốt, đồng thời tập trung sửa chữa hệ thống thủy lợi để kịp phục vụ sản xuất vụ đông xuân.
“Địa phương kiến nghị Trung ương và thành phố tiếp tục quan tâm, hỗ trợ thêm kinh phí để xử lý triệt để các điểm hư hỏng, sớm ổn định đời sống nhân dân và phục hồi sản xuất sau thiên tai”, ông Công nhấn mạnh.
Sạt lở tại đập Đồng Quảng (thôn Chiêm Sơn Đông). Ảnh: Lan Anh.
Theo Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự TP Đà Nẵng, đợt mưa lũ cuối tháng 10/2025 đã làm vỡ 20m đê sông Ly Ly tại xã Xuân Phú, ảnh hưởng 48 hộ dân với 175 nhân khẩu; tại xã Duy Nghĩa, đoạn kè bờ sông bị sạt dài khoảng 75m. Toàn thành phố có 14 công trình thủy lợi và 8 công trình cấp nước bị hư hỏng; hơn 8.000m kênh mương bị sạt lở, bồi lấp.
Các công trình hư hỏng nếu không được khắc phục, sửa chữa kịp thời sẽ có nguy cơ thiếu nước tưới cho vụ đông xuân và chậm tiêu thoát nước đối với những diện tích cây trồng vẫn đang úng ngập. Bên cạnh đó, lượng bùn đất lớn do lũ bồi lấp đã tạo mặt bằng mới ở nhiều cánh đồng, đòi hỏi hệ thống thủy lợi phải được nâng cấp và tôn tạo để đáp ứng yêu cầu sản xuất sau thiên tai.
Cần sớm khắc phục hư hỏng hệ thống thủy lợi sau các đợt mưa lũ tại Đà Nẵng. Ảnh: Lan Anh.
Trước tình hình này, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng đã yêu cầu các địa phương chủ động phân bổ nguồn kinh phí tạm thời để khắc phục hư hỏng nhẹ, đồng thời rà soát, thống kê thiệt hại và đề xuất nhu cầu hỗ trợ theo đúng quy định, gửi về Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự thành phố, Sở Nông nghiệp và Môi trường và Sở Tài chính.
Ông Phạm Quang Đông, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý tài nguyên nước và thủy lợi Đà Nẵng, cho biết các địa phương đang triển khai giải pháp tạm thời để bảo đảm nguồn tưới bước một, nạo vét cửa lấy nước và khôi phục các tuyến kênh mương bị bồi lấp. Sau khi hoàn thiện thống kê thiệt hại, UBND thành phố sẽ bố trí kinh phí để kịp thời hỗ trợ khôi phục sản xuất cho các vùng bị ảnh hưởng nặng.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Hơn hai thập kỷ qua, khung pháp lý quản lý thống nhất tài nguyên nước được hoàn thiện, trở thành nền tảng quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.
Nước luôn được ví như “huyết mạch” của sự sống, yếu tố thiết yếu cho mọi hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Trong cơ cấu chức năng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lĩnh vực tài nguyên nước giữ vai trò trụ cột, là nền tảng để điều hòa, phân bổ, bảo vệ và phục hồi nguồn nước, phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và thích ứng biến đổi khí hậu.
Lễ hội đua ghe hưởng ứng ngày Nước thế giới tại Hậu Giang. Ảnh: Cục Quản lý tài nguyên nước.
Lễ hội đua ghe hưởng ứng ngày Nước thế giới tại Hậu Giang. Ảnh: Cục Quản lý tài nguyên nước.
Hình thành khung thể chế thống nhất về tài nguyên nước
Trước năm 1998, nước ta chưa có luật chuyên ngành về tài nguyên nước, việc quản lý còn phân tán giữa các lĩnh vực thủy lợi, thủy điện, cấp nước... Việc Quốc hội thông qua Luật Tài nguyên nước năm 1998 đánh dấu bước ngoặt lớn, khi lần đầu tiên Việt Nam có cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Giai đoạn này, công tác quản lý tài nguyên nước được giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mới chủ yếu tập trung vào vận hành, đầu tư và bảo vệ công trình thủy lợi. Cùng với tiến trình đổi mới quản lý nhà nước, đến năm 2002, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2002/NĐ-CP thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chức năng quản lý tài nguyên nước được giao thống nhất về một đầu mối.
Sự ra đời của Cục Quản lý tài nguyên nước đã tạo nền tảng quan trọng để chuyên môn hóa công tác quản lý, giúp Bộ chủ động xây dựng chính sách, quy hoạch và thực thi pháp luật. Các văn bản tiếp theo như: Quyết định 1035/QĐ-BTNMT năm 2008, Quyết định 1686/QĐ-BTNMT năm 2013, Quyết định 1536/QĐ-BTNMT năm 2017 và Quyết định 2866/QĐ-BTNMT năm 2022 tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Cục, mở rộng phạm vi quản lý theo hướng hiện đại, lấy hiệu quả sử dụng và bảo vệ nguồn nước làm trọng tâm.
Đặc biệt, bước sang năm 2025, khi hợp nhất thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước chính thức là cơ quan đầu mối giúp Bộ trưởng thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước trên phạm vi toàn quốc. Từ đây, công tác điều hòa, phân phối, phục hồi, khai thác và bảo vệ nguồn nước được triển khai đồng bộ, thống nhất, hướng tới phát triển bền vững.
Luật Tài nguyên nước năm 2023 - bước tiến lớn về thể chế
Một dấu mốc quan trọng khác trong tiến trình hoàn thiện thể chế quản lý nước của Việt Nam là sự ra đời của Luật Tài nguyên nước năm 2023, thay thế Luật năm 2012. Đây không chỉ là sự điều chỉnh kỹ thuật đơn thuần mà là bước phát triển mang tính toàn diện, phản ánh tầm nhìn chiến lược mới về quản trị nguồn nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đô thị hóa và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng.
Quốc hội khóa XV thông qua Luật Tài nguyên nước 2023 là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước của Việt Nam. Ảnh: Cục Quản lý tài nguyên nước.
Quốc hội khóa XV thông qua Luật Tài nguyên nước 2023 là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước của Việt Nam. Ảnh: Cục Quản lý tài nguyên nước.
Luật Tài nguyên nước 2023 đã thiết lập nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính, qua đó khắc phục triệt để tình trạng chia cắt, chồng chéo trong khai thác, sử dụng nguồn nước. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm sự liên kết vùng, điều hòa lợi ích giữa các địa phương và ngành kinh tế, hướng đến khai thác bền vững và sử dụng hiệu quả từng đơn vị nước.
Đặc biệt, Luật khẳng định rõ vai trò của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước - bước kiện toàn quan trọng nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý. Quan điểm xuyên suốt được thể hiện là “nước là tài sản quốc gia, là nguồn lực chung cần được quản lý tập trung, tiết kiệm và hiệu quả”, coi bảo vệ, phục hồi nguồn nước là nhiệm vụ chiến lược gắn với an ninh môi trường, an ninh lương thực và an ninh năng lượng quốc gia.
Cùng với đó, Luật cũng bổ sung nhiều cơ chế mới mang tính đột phá, như quy định thu tiền cấp quyền khai thác, chế tài về bảo vệ và phục hồi nguồn nước, chính sách khuyến khích tái sử dụng và tuần hoàn nước trong sản xuất. Những nội dung này không chỉ tạo hành lang pháp lý minh bạch, khả thi mà còn định hướng quản lý tài nguyên nước theo cơ chế thị trường, công bằng và bền vững, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng trong bảo vệ, phát triển nguồn nước góp phần quan trọng cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Công nghệ số quản lý, giám sát và phục hồi nguồn nước
Những năm gần đây, công tác giám sát và điều tiết nguồn nước đã có bước tiến vượt bậc nhờ ứng dụng công nghệ số. Hàng trăm công trình khai thác nước mặt và nước ngầm được giám sát trực tuyến, giúp cơ quan quản lý nắm bắt kịp thời lưu lượng khai thác, chất lượng nguồn nước và nguy cơ suy thoái, ô nhiễm.
Công tác quy hoạch tài nguyên nước quốc gia và lưu vực sông được triển khai đồng bộ, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai và năng lượng, tạo cơ sở cho phân bổ nguồn nước hợp lý giữa các ngành, các địa phương. Nhờ đó, tình trạng tranh chấp, mâu thuẫn trong sử dụng nước giữa các vùng giảm đáng kể.
Hồ treo trữ nước trên núi ở Đồng Văn. Ảnh: Trần Minh Phượng.
Hồ treo trữ nước trên núi ở Đồng Văn. Ảnh: Trần Minh Phượng.
Song song, các chương trình phục hồi nguồn nước suy thoái, ô nhiễm, đặc biệt tại các lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Cửu Long, được triển khai mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực. Các dự án tìm kiếm nước ngọt cho vùng khan hiếm, đảo xa, khu vực chịu ảnh hưởng hạn hán, xâm nhập mặn cũng được thực hiện, bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho hàng triệu người dân.
Công tác cấp phép, thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước được thực hiện minh bạch, đúng pháp luật, mang lại nguồn thu ngân sách hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm. Nguồn lực này không chỉ phục vụ tái đầu tư cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước, mà còn góp phần vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Hơn nữa, việc coi trọng quản lý tổng hợp tài nguyên nước đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp, công nghiệp và đô thị, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải carbon và bảo vệ hệ sinh thái nước.
Từ quản lý rời rạc đến thống nhất, từ khai thác sang phát triển bền vững, lĩnh vực tài nguyên nước Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định cam kết bảo đảm an ninh nguồn nước - nền tảng cho phát triển bền vững và thịnh vượng quốc gia.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|