Tin tức sự kiện

Hàng trăm đập nước ở nhiều nước châu Âu được phá bỏ

TMO - Nhiều quốc gia tại khu vực châu Âu đang tháo dỡ nhiều đập nước để khôi phục dòng chảy tự nhiên và bảo vệ hệ sinh thái nước ngọt.

Báo cáo thường niên của Dam Removal Europe, liên minh 6 tổ chức khôi phục kết nối sông ngòi, ghi nhận kỷ lục phá bỏ 603 đập nước ở 21 quốc gia trong năm 2025. Việc phá bỏ các đập nước giúp kết nối lại hơn 3.740 km sông trên toàn châu lục, hướng tới mục tiêu khôi phục 25.000 km sông chảy tự do vào năm 2030 của Liên minh châu Âu (EU).

Ước tính châu Âu hiện có khoảng 1,2 triệu công trình cản dòng làm gián đoạn hệ thống sông ngòi. Nhiều công trình được xây dựng từ nhiều thập niên trước để phục vụ thủy điện, giao thông đường thủy hoặc nông nghiệp nhưng hiện không còn giá trị sử dụng. Khi dòng chảy tự nhiên bị chặn lại, các đoạn sông biến thành hồ chứa nước tĩnh, dễ hấp thụ nhiệt từ ánh nắng mặt trời khiến nhiệt độ nước tăng lên. Các hồ chứa cũng làm gia tăng thất thoát nước do bốc hơi và tích tụ vật chất hữu cơ phân hủy, giải phóng khí nhà kính metan.

(Ảnh minh họa). 

Ngoài ra, các đập nước còn gây cản trở đường di cư sinh sản của nhiều loài cá như cá hồi Đại Tây Dương hay lươn châu Âu. Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu, hơn 42% loài cá nước ngọt của châu lục đang bị đe dọa, trong đó sự chia cắt dòng sông được xem là một trong những nguyên nhân chính.

Không chỉ động vật thủy sinh bị ảnh hưởng, các hệ sinh thái ven sông cũng suy giảm khi dòng chảy, trầm tích và nhiệt độ nước thay đổi. Các chuyên gia cảnh báo nhiều đập cũ hiện xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ kém an toàn trong bối cảnh lũ lụt và thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu.

Tại Phần Lan, việc phá bỏ ba đập thủy điện dọc sông Hiitolanjoki từ năm 2021 đến 2023 giúp mở lại các tuyến di cư cho cá hồi đất liền cực kỳ nguy cấp, cho phép chúng tiếp cận khu vực sinh sản bị chặn từ đầu thập niên 1900. Nhà chức trách Phần Lan cũng đang lên kế hoạch phá bỏ đập thủy điện Palokki ở lưu vực sông Vuoksi.

Tại Pháp, hoạt động phá bỏ đập Vezins năm 2020 và La Roche-Qui-Boit vào năm 2022 trên sông Sélune góp phần khôi phục gần 90 km sông chảy tự do. Ở khu vực Quận Hồ của Anh, đập tràn Bowston trên sông Kent bị phá bỏ năm 2022 giúp khôi phục dòng chảy tự nhiên của sông, cải thiện điều kiện cho cá di cư và hệ sinh thái xung quanh.

Tại Bỉ, những cống ngầm trong rừng Anlier bị loại bỏ để kết nối lại những nhánh sông nhỏ đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học địa phương. Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức và Estonia đều thực hiện các dự án phá bỏ rào cản ở nhiều quy mô khác nhau trong thời gian gần đây.

Năm 2025, Thụy Điển phá bỏ nhiều đập nhất (173), tiếp theo là Phần Lan (143) và Tây Ban Nha (109). Các quốc gia ở Nam và Đông Nam châu Âu, bao gồm Slovakia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, Hy Lạp, thậm chí cả Ukraine cũng đang tiến hành phá bỏ đập. Giới chuyên gia nhận định việc khôi phục dòng chảy tự nhiên không chỉ giúp bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tăng khả năng chống chịu của các hệ sinh thái trước biến đổi khí hậu./.

Nguồn: thiennhienmoitruong.vn

Hàng trăm đập nước ở nhiều nước châu Âu được phá bỏ

 

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài cuối] Công trình kiểm soát nguồn nước cửa sông lớn

Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn.

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 1] Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 2] ‘Vòng xoáy suy thoái’ khó đảo ngược

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’

Trước đây, giới chuyên môn thủy lợi không hề nghĩ đến việc xây dựng cống ở các cửa sông lớn với độ sâu hơn 10m và nền đất yếu, vì theo công nghệ cống truyền thống thì không thể làm khô hố móng; còn theo công nghệ nước ngoài thì nền kinh tế nước ta thời nào cũng không đáp ứng được.Tình trạng này từng là "nút thắt" khiến tư duy quy hoạch thủy lợi ĐBSCL bị giới hạn ở các cống nội đồng quy mô vừa và nhỏ. Nhưng tình hình đã thay đổi căn bản trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông lớn.

Công nghệ đập trụ đỡ thi công tại chỗĐập trụ đỡ là sáng chế Việt Nam được cấp bằng độc quyền số 6601 năm 2007, đã được kiểm chứng qua hơn 30 cống ngăn sông lớn vùng đồng bằng ven biển - tiêu biểu là cống Thảo Long 500m (TP Huế, 2004) và Cái Lớn - Cái Bé 450m (An Giang, 2022).Đặc trưng then chốt là thi công trong dòng chảy: từng trụ độc lập bê tông cốt thép ngàm vào nền qua hệ cọc đóng sâu trong khung vây cọc ván thép, kết hợp tường cừ chống thấm theo đường viền đứng và thảm đá chống xói; tiết diện thoát nước qua công trình bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Giữa các trụ lắp cửa van hiện đại rộng 40-60m điều khiển bằng xi-lanh thủy lực.Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.

Ưu thế nổi bật của đập trụ đỡ là khả năng kết hợp cầu giao thông trên cùng kết cấu trụ đỡ - giảm đáng kể chi phí so với xây cầu riêng và đặc biệt phù hợp nền đất yếu đáy sông ĐBSCL. Vì tính an toàn và đã chứng minh, đập trụ đỡ được chọn làm xương sống cho 4/7 cửa cần kết hợp cầu hoặc cảng cố định: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cổ Chiên/Cung Hầu và Trần Đề. Cửa Tiểu (khẩu độ 600-1.000m) là công trình được ưu tiên triển khai sớm trong thời gian tới, cho phép kế thừa kinh nghiệm trực tiếp và đẩy nhanh tiến độ triển khai.

Công nghệ đập hộp chìm

Đập hộp chìm là sáng chế Việt Nam đang trong giai đoạn nghiên cứu - thiết kế, được đề xuất để xây cống thủy lợi lớn cố định ở lòng sông sâu vùng đồng bằng ven biển, với mục tiêu thi công nhanh và giá thành rẻ hơn đập trụ đỡ.

ĐHC gồm nhiều đơn nguyên dạng hộp chữ nhật rỗng bằng bê tông cốt thép mác cao (chiều dài B vuông góc dòng chảy có thể đạt vài trăm mét), được chế tạo trong hố đúc tại bãi/nhà máy, làm nổi và lai dắt đến vị trí xây dựng, rồi hạ chìm sát đáy sông để làm cống vĩnh viễn. Ổn định công trình do trọng lượng G và chiều rộng L quyết định theo các nguyên lý chống lật, trượt, lún và thấm.

 ĐHC có hai loại theo độ sâu: loại 1 tầng cho H<12m và loại 2 tầng có sàn trung gian cho H>12m; sàn đỉnh có thể tận dụng làm cầu giao thông. So với đập trụ đỡ, đập hộp chìm bỏ được các hạng mục thi công khó khăn dưới sông sâu (khung vây cọc ván thép, trụ chịu lực bằng hệ cọc, thảm chống xói riêng), do đó giảm đáng kể chi phí và rút ngắn thời gian thi công.

Đập hộp chìm được đề xuất cho 2/7 cửa: Hàm Luông (loại 2 tầng, sâu 12-15m - là cửa rộng và sâu nhất hệ thống, nơi đập trụ đỡ sẽ tốn kém quá mức) và Định An (loại 1 tầng - độ sâu nhỏ 3-4m do bồi lắng đặc biệt thuận lợi cho dìm khối hộp). Tác giả bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu - phát triển hợp tác với Hà Lan và Bỉ - những quốc gia có kinh nghiệm khối hộp chìm quy mô lớn nhất - để đưa công nghệ này từ thiết kế sang triển khai thực địa, lấy Định An làm công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông.

Công nghệ đập tàu thủy

Đập tàu thủy là sáng chế Việt Nam đang được nghiên cứu, phù hợp với sông sâu không có quy hoạch cầu giao thông cố định và chỉ cần kiểm soát mặn mùa khô. Khác biệt căn bản so với đập trụ đỡ và đập hộp chìm: Đập tàu thủy là công trình di động - lắp dựng đầu mùa khô, cuối mùa khô hút hết nước trong lòng đơn nguyên cho nổi lên và di dời về nơi cất giữ, hoặc chỉ lắp khi có dự báo hạn cực đoan. Nguyên lý chế tạo gần giống đập hộp chìm (hộp bê tông cốt thép trong hố đúc - làm nổi - di dời - hạ chìm) nhưng kết cấu trong lòng đơn nguyên đơn giản hơn (chỉ có thanh dàn để ổn định, không chia khoang), bên dưới đáy có lớp cao su chống dính khi làm nổi trở lại.

Phạm vi áp dụng: sông chiều rộng dưới 400m mỗi đơn nguyên, ghép 1-2 đơn nguyên cho sông trung bình. Ưu điểm nổi bật là chi phí thấp nhất trong ba công nghệ do bỏ được hệ cọc chịu lực, khung vây cọc ván thép và thảm chống xói; mùa mưa lòng sông hoàn toàn tự nhiên không có công trình; có thể tái sử dụng cho nhiều vị trí.

Đập tàu thủy được đề xuất cho cửa Ba Lai (khẩu độ tự nhiên ~544m, sâu ~5 m) - kết hợp cải tạo cống Ba Lai cũ (84m, 2002) thành hệ thống kiểm soát mặn theo nguyên lý mở - thường, đóng - khi cần, đồng thời làm bãi thử nghiệm quy mô vừa cho công nghệ trước khi xem xét nhân rộng. Ba Lai là công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông cho công nghệ này giai đoạn 2030-2040, sau khi mô hình thử nghiệm quy mô vài trăm mét tại kênh - cống ngoài hệ thống đã thành công.

Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.
 Bằng việc kết hợp linh hoạt ba công nghệ trên cho các cửa sông, ước tính tổng vốn đầu tư cho hệ thống khoảng 5-10 tỷ USD (ước tính sơ bộ của tác giả; có tham chiếu với một số công trình khác). So với thiệt hại tránh được khoảng 70.000 tỷ VND/năm (~2,88 tỷ USD/năm) hiện nay và còn tăng trong tương lai, thời gian hoàn vốn kinh tế ròng chỉ khoảng 8-15 năm - một mức hiệu quả đầu tư rất cao theo chuẩn các dự án hạ tầng quốc gia. Đặc biệt nếu tính cả các giá trị gián tiếp (cảng biển, cầu giao thông, năng lượng thủy triều, phục hồi sinh thái), tỷ lệ B/C có thể đạt 3-5 lần.

Qua các phân tích của bài báo này, câu hỏi được đặt ra có lẽ không phải là “có nên can thiệp công trình hay không” mà là “can thiệp theo cách nào để giải quyết được nguyên nhân gốc rễ”. Các quan ngại cần được đối thoại nghiêm túc trên cơ sở khoa học, không phải bác bỏ. Đề xuất CTKSNN không phủ định các giải pháp "thuận thiên" và không định vị mình là giải pháp thay thế. Ngược lại, CTKSNN được hiểu là điều kiện đủ về mặt thủy văn, đảm bảo dòng nước ngọt mùa khô để các giải pháp mềm (chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, lúa - tôm, trữ nước phân tán, kiểm soát khai thác nước ngầm, ngoại giao Mekong) có cơ sở vật chất phát huy hiệu quả trong những năm cực đoan.

Có quan ngại cho rằng, việc xây dựng các CTKSNN sẽ cản trở di cư của các loài cá và giao thông thủy. Đây là quan ngại sinh thái chính đáng. Tuy nhiên, công trình hiện đại đều có âu tàu hiện đại, thang cá và âu cá tích hợp. Hơn nữa, do CTKSNN có tiết diện bằng lòng sông, lại được mở theo yêu cầu môi trường, di cư cá vẫn diễn ra tự nhiên trong 90-95% thời gian. Khi đóng cửa van trong những giờ cao điểm triều mặn, các thiết kế "thân thiện với cá" như cửa quay xiên, lạch phụ thông qua được áp dụng để giảm thiểu cản trở. Bài học từ Hà Lan, Đức, Anh cho thấy có thể duy trì 70-80% lưu lượng di cư cá tự nhiên qua thiết kế tốt.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong

An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài cuối] Công trình kiểm soát nguồn nước cửa sông lớn

 

Cảnh báo nguy cơ suy giảm nguồn nước ngầm trên toàn thế giới

TMO - Một nghiên cứu quốc tế vừa công bố tại Paris cho thấy nguồn nước ngầm trên thế giới đang suy giảm và mất cân bằng nghiêm trọng dưới tác động của biến đổi khí hậu và khai thác quá mức. Dựa trên dữ liệu từ 47 quốc gia trong gần 20 năm, các nhà khoa học cảnh báo tình trạng sụt giảm mực nước ngầm đã xảy ra ở nhiều khu vực.

Cụ thể, nghiên cứu trên do Trung tâm đánh giá tài nguyên nước ngầm quốc tế (IGRAC) – tổ chức trực thuộc Liên hợp quốc (LHQ) có trụ sở tại Hà Lan – thực hiện, dựa trên dữ liệu theo dõi gần 43.000 điểm quan trắc tại 47 quốc gia trong giai đoạn 2004 - 2023. Theo nghiên cứu trên, tại ít nhất 1/2 số điểm quan trắc, quy luật tự nhiên của nước ngầm đã bị xáo trộn.

Trong đó, 29% số điểm ghi nhận mực nước ngầm sụt giảm, đặc biệt nghiêm trọng tại một số quốc gia như Jordan và Ấn Độ. Các nhà khoa học cảnh báo tình trạng này có thể kéo theo hàng loạt hệ lụy về môi trường, kinh tế và xã hội, từ thiếu nước sinh hoạt, suy giảm sản xuất nông nghiệp cho tới hư hại cơ sở hạ tầng.

Bà Elisabeth Lictevout, Giám đốc IGRAC, cho biết thế giới đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm và mất cân bằng nguồn nước ngầm kéo dài suốt 20 năm qua, với những tác động ngày càng rõ rệt đối với môi trường, kinh tế và đời sống xã hội.

Nghiên cứu của IGRAC cho thấy nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng khai thác nước ngầm quá mức để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nhu cầu sinh hoạt tại các đô thị, trong khi biến đổi khí hậu làm lượng mưa thay đổi thất thường và hạn hán kéo dài hơn.

Một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất là hiện tượng sụt lún mặt đất do các tầng chứa nước dưới lòng đất bị suy kiệt sau nhiều năm bị khai thác liên tục. Thành phố Mexico được xem là ví dụ điển hình khi nhiều khu vực đang lún xuống nhanh chóng vì tình trạng bơm hút nước ngầm kéo dài suốt nhiều thập kỷ. Các nhà nghiên cứu cho biết hiện tượng sụt lún có thể làm hư hại đường sá, hệ thống cấp thoát nước và làm giảm vĩnh viễn khả năng tích trữ nước của các tầng ngậm nước dưới lòng đất.

Điều này khiến nhiều khu vực mất dần khả năng chống chịu trước các đợt hạn hán trong tương lai. Tại Jordan, mực nước Biển Chết liên tục hạ thấp đã làm xuất hiện nhiều hố sụt lớn, gây mất đất nông nghiệp và đe dọa các khu dân cư xung quanh.

Trong khi đó, ở bán đảo Yucatan của Mexico, nước biển đang xâm nhập sâu vào các tầng nước ngầm ven biển, khiến nhiều nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận một số trường hợp cải thiện tích cực nhờ chính sách quản lý hiệu quả.

Tại Bangkok của Thái Lan, các biện pháp hạn chế khai thác nước ngầm đã giúp thành phố ngừng lún và mực nước ngầm dần phục hồi. Dù vậy, việc nước ngầm dâng trở lại quá nhanh cũng đang tạo ra những thách thức mới đối với hạ tầng đô thị. Trước những hệ lụy ngày càng nghiêm trọng tại nhiều khu vực trên thế giới, các nhà khoa học kêu gọi tăng cường giám sát và quản lý bền vững nguồn nước ngầm.

Nguồn: thiennhienmoitruong.vn

Cảnh báo nguy cơ suy giảm nguồn nước ngầm trên toàn thế giới

 

Trữ nước thích ứng hạn mặn

Trước áp lực hạn mặn, biến đổi khí hậu, nhiều giải pháp tích trữ nước, sản xuất lúa chất lượng cao đang được thúc đẩy tại ĐBSCL.

 Nông nghiệp ĐBSCL bước vào kỷ nguyên không cần nhiều sức người

Giải pháp số từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp ở ĐBSCL

ĐBSCL chuyển mạnh từ 'ứng phó bị động' sang 'chủ động thích ứng' với thiên tai

Rõ người, rõ việc trong kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL

 Mới đây, tại phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Khuyến nông vùng ĐBSCL, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long cùng các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo “Chuyển giao công nghệ, kiến thức thực hành sản xuất lúa chất lượng cao, hiệu quả bền vững và truyền thông phòng tránh hạn, xâm nhập mặn tại 5 tỉnh, thành vùng ĐBSCL và tỉnh Tây Ninh”.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Theo báo cáo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, tình trạng thiếu nước cục bộ vẫn xảy ra do phân bố nguồn nước chưa đồng đều, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ và tác động ngày càng lớn của xâm nhập mặn.TS Trần Thái Hùng, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết, những năm gần đây, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL có xu hướng xuất hiện sớm hơn, kéo dài hơn và gia tăng cường độ dưới tác động của biến đổi khí hậu cùng sự suy giảm nguồn nước ngọt từ thượng nguồn. 

 Ban tổ chức cũng chia sẻ nhiều kinh nghiệm, mô hình tích trữ nước phân tán phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng tránh hạn mặn; đồng thời triển khai chiến lược công tác khuyến nông phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hội thảo cũng giới thiệu mô hình nông nghiệp bền vững hướng tới tương lai (Forward Farming) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo.Theo TS. Hồng Minh Hoàng, Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, việc trữ nước trên ruộng lúa trước các đợt xâm nhập mặn, kết hợp sử dụng nước tiết kiệm và tái sử dụng nước là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng thích ứng cho sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Ông cũng đề xuất hình thành các ô thủy lợi nội đồng đồng bộ để chủ động cấp, tiêu và trữ nước phục vụ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.Các chuyên gia cũng cảnh báo, ĐBSCL thời gian tới sẽ tiếp tục chịu tác động của nước biển dâng, sụt lún nền đất và gia tăng nhu cầu sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mekong. Theo Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, nhu cầu sử dụng nước tại các quốc gia thượng lưu đến năm 2040 có thể tăng 50-60%, tạo thêm áp lực lên nguồn nước mùa khô vùng hạ lưu ĐBSCL.Để bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, nông dân cần chú ý áp dụng các mô hình tích trữ nước phân tán phù hợp từng loại cây trồng. Cụ thể như trữ nước trên ruộng lúa ở mức tối đa trước thời điểm được dự báo xâm nhập mặn cao hoặc tích trữ nước trong ao, mương vườn cây ăn trái trong mùa khô hạn.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

 

Trữ nước thích ứng hạn mặn

 

Bỏ thủ tục cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất ở cấp tỉnh

Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ.

 Nghiêm cấm khai thác, hành nghề khoan nước dưới đất khi chưa được cấp phép

Quy định việc di chuyển, thay đổi hoặc giải thể trạm quan trắc nước dưới đất

Đồng Nai công khai kết quả quan trắc nước dưới đất

Đâu là vùng cấm và vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tại TP Huế?

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1693/QĐ-BNNMT công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực tài nguyên nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Ảnh: Hoàng Hoan.Thủ tục hành chính cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Ảnh: Hoàng Hoan.

Theo đó, thủ tục “Cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh chính thức được bãi bỏ. Đây là thủ tục trước đây áp dụng trong quản lý hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, song hiện không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn và định hướng cải cách hành chính.

 Việc bãi bỏ thủ tục này được thực hiện theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP của Chính phủ, qua đó góp phần đổi mới phương thức quản lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, giảm bớt các khâu trung gian, tạo môi trường thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình hoạt động.

Cùng với đó, các nội dung có liên quan tại Quyết định số 248/QĐ-BNNMT trước đây cũng được bãi bỏ nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 29/4/2026.

Việc cắt giảm thủ tục hành chính lần này tiếp tục khẳng định quyết tâm của ngành trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ, đồng thời góp phần sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Bỏ thủ tục cấp lại giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất ở cấp tỉnh

 
Trang 12345678910

Trang 1 trong tổng số 33 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1555
mod_vvisit_counterTrong tuần3463
mod_vvisit_counterTrong tháng36872
mod_vvisit_counterTất cả8612816

We have: 52 guests online