|
Từ khi có hệ thống cấp nước sạch, người dân nông thôn yên tâm sử dụng, sức khỏe cải thiện, môi trường sống được bảo vệ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Nguồn nước sạch tiếp sức vùng lũ Điện Biên
Đưa nước sạch về vùng nông thôn, miền núi, đồng bào quý như vàng
Những ngày đầu thu, về xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, chúng tôi bắt gặp hình ảnh bà con phấn khởi mở vòi nước sạch ngay trong sân nhà. Họ không còn phải gánh nước từ suối xa, cũng không còn lo lắng mỗi mùa mưa lũ, nguồn nước sinh hoạt đục ngầu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh tật.
Chỉ tay về chiếc vòi nước đang chảy róc rách, bà Lò Thị Nang, bản Công, vui vẻ nói: Mấy chục năm qua, gia đình tôi dùng nước suối. Mùa khô thì cạn, mùa mưa thì đục, trẻ con thường xuyên đau bụng. Giờ có nước sạch dẫn về tận nhà, cuộc sống thay đổi hẳn, sức khỏe cũng tốt hơn nhiều.
Từ khi có nước sạch về đến tận nhà, người dân không còn vất vả đi lấy nước ở suối về sinh hoạt trong gia đình. Ảnh: Hoàng Châu.
Không riêng gì gia đình bà Nang, hàng trăm hộ dân trong xã cũng hưởng lợi từ công trình nước sạch được đưa vào sử dụng năm 2021. Họ có thể yên tâm dùng nước cho ăn uống, nấu nướng, chăn nuôi mà không còn nỗi lo nguồn nước ô nhiễm.
Ở nhiều vùng nông thôn, trước đây người dân quen với việc sử dụng nước giếng, nước mưa hoặc suối mà không qua xử lý. Thói quen này tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh đường ruột, giun sán, bệnh ngoài da. Khi có nước sạch, người dân từng bước thay đổi, biết đun sôi trước khi uống, sử dụng nước tiết kiệm và vệ sinh hơn.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Thủy, Trạm Y tế xã Mường Phăng, cho biết: Trước đây, xã thường xuyên ghi nhận các ca bệnh liên quan đến nguồn nước như tiêu chảy, viêm da, giun sán. Từ khi hệ thống nước sạch đi vào hoạt động, số ca bệnh giảm rõ rệt. Đây là minh chứng rõ nhất cho vai trò thiết yếu của nước sạch với sức khỏe cộng đồng.
Người dân đang sử dụng nguồn nước sạch kéo từ đầu nguồn về đến thôn bản. Ảnh: Hoàng Châu.
Không chỉ cải thiện sinh hoạt, nước sạch còn hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Gia đình anh Quàng Văn Thanh, bản Kéo, cho biết: Có nước sạch, tôi dùng để vệ sinh chuồng trại, rửa dụng cụ, chăm sóc đàn lợn và gà. Trước kia, nguồn nước ao hồ bẩn nên vật nuôi dễ bệnh, giờ sạch sẽ hơn, hiệu quả chăn nuôi cũng cao hơn.
Ông Trần Văn Tuấn, Chủ tịch UBND xã Mường Phăng, chia sẻ: Xã còn nhiều điểm dân cư phân tán, việc kéo đường ống gặp khó khăn. Tuy nhiên, chúng tôi xác định nước sạch là ưu tiên hàng đầu, bởi có nước sạch thì đời sống người dân mới ổn định và phát triển bền vững.
Nước sạch về thôn bản giúp nâng cao đời sống, cải thiện sức khỏe người dân. Ảnh: Hoàng Châu.
Để bảo đảm nước sạch cho nông thôn, cần sự chung tay từ Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nhà nước tiếp tục đầu tư nâng cấp công trình cấp nước; doanh nghiệp tham gia xã hội hóa dịch vụ; người dân nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước, sử dụng tiết kiệm, vệ sinh.
Nước sạch không chỉ giúp người dân nông thôn cải thiện sức khỏe mà còn góp phần thay đổi diện mạo nông thôn mới, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường. Đây chính là nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp xanh, một môi trường sống bền vững cho các thế hệ mai sau.
Nguồn:baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Các quy định chặt chẽ về phân vùng chức năng nguồn nước, xác định dòng chảy tối thiểu và bảo vệ nước ngầm sẽ tác động đa chiều và sâu sắc đến ngành thủy sản.
Văn bản 41/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước mà Bộ NN-MT vừa ban hành có nhiều quy định liên quan đến ngành thủy sản, một ngành kinh tế mũi nhọn sử dụng và tác động nhiều đến tài nguyên nước. Ngành thủy sản sẽ phải đầu tư, chuyển đổi và thích ứng với những quy định về tài chính, kỹ thuật mới song về lâu dài, ngành thủy sản sẽ hướng đến mô hình phát triển bền vững, nâng cao vị thế, củng cố thương hiệu trên trường quốc tế.
Thông tư đưa ra nhiều quy định quan trọng về phân vùng chức năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu, bảo hộ vệ sinh nguồn nước sinh hoạt và kế hoạch bảo vệ nước ngầm. Ảnh: Minh Hoàng.
Phân vùng chức năng nguồn nước: Cơ sở cho quản lý hiệu quả
Điểm nổi bật nhất của Thông tư là quy định phân vùng chức năng nguồn nước mặt. Theo đó, từng khu vực nguồn nước được xác định rõ mục đích sử dụng: sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, du lịch hay bảo tồn. Đây là một thay đổi mang tính nền tảng, bởi trước đây, việc khai thác nguồn nước diễn ra rời rạc, nhiều địa phương để tình trạng phát triển tự phát, dẫn đến ô nhiễm và xung đột giữa các ngành.
Đối với ngành nuôi trồng thủy sản – lĩnh vực phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và nguồn cung nước, quy định phân vùng chức năng nguồn nước mở ra hướng phát triển theo chiều sâu, thay vì mở rộng diện tích một cách ồ ạt như trước.
Trước hết, việc xác định rõ ràng vùng nuôi trong quy hoạch tạo cơ sở pháp lý ổn định, giúp người dân và doanh nghiệp an tâm đầu tư dài hạn, áp dụng công nghệ tiên tiến mà không lo rủi ro từ việc thay đổi mục đích sử dụng nước đột ngột.
Bên cạnh đó, tại những khu vực ưu tiên cho sinh hoạt hoặc bảo tồn, hoạt động nuôi trồng buộc phải điều chỉnh hoặc thu hẹp, qua đó loại bỏ dần các vùng nuôi kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Nhờ vậy, nguồn nước được bảo vệ tốt hơn, đồng thời ngành thủy sản cũng có điều kiện tái cấu trúc, hướng tới mô hình sản xuất bền vững và an toàn.
Việc quy hoạch vùng nuôi chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Song song với đó, các quy định về duy trì dòng chảy tối thiểu và kiểm soát khai thác nước ngầm góp phần bảo đảm chất lượng nước ổn định, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong ao nuôi, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Việc quy hoạch vùng nuôi thủy sản chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Ảnh: Minh Khang.
Việc quy hoạch vùng nuôi thủy sản chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Ảnh: Minh Khang.
Ở tầm vĩ mô, những quy định mới còn đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng lợi ích giữa các ngành sử dụng nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn ngày càng gay gắt, việc phân bổ công bằng, minh bạch nguồn nước dựa trên cơ sở pháp luật sẽ giúp hạn chế xung đột, củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp. Qua đó, ngành thủy sản không chỉ được đảm bảo nguồn lực phát triển, mà còn trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược quản lý và khai thác bền vững tài nguyên nước quốc gia.
Bảo vệ hạ lưu từ quy định duy trì dòng chảy tối thiểu
Một nội dung quan trọng khác là việc xác định dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối. Đây là mức dòng chảy cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh, cân bằng môi trường, đồng thời đảm bảo nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.
Thực tế, nhiều con sông ở miền Trung và Tây Nguyên từng cạn kiệt do khai thác quá mức ở thượng nguồn, khiến vùng hạ lưu thiếu nước tưới, nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Với quy định mới, các dự án thủy điện, hồ chứa, khai thác công nghiệp bắt buộc phải duy trì dòng chảy tối thiểu, không được "giữ nước" một cách tuyệt đối. Điều này giúp các vùng nuôi thủy sản ở đồng bằng có nguồn nước ổn định, giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh và ô nhiễm.
Dòng chảy tối thiểu cũng là yếu tố quan trọng trong thích ứng biến đổi khí hậu, nhất là tại các vùng thường xuyên chịu hạn hán, xâm nhập mặn. Khi hệ thống sông ngòi duy trì được dòng chảy cơ bản, khả năng tự làm sạch của nước tăng lên, giảm ô nhiễm và tạo điều kiện phục hồi cho hệ sinh thái.
Ngoài phân vùng và dòng chảy, Thông tư còn nhấn mạnh đến việc bảo vệ và quản lý khai thác nước ngầm. Đây là nguồn tài nguyên quý giá, đặc biệt quan trọng đối với các tỉnh ven biển và đồng bằng, nơi thường xuyên bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất và suy thoái tầng chứa nước ngầm do khai thác quá mức. Ảnh: Minh Hoàng.
Hiện nay, nhiều khu vực ven biển miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất và suy thoái tầng chứa nước ngầm do khai thác quá mức. Tình trạng này không chỉ gây thiệt hại về hạ tầng mà còn trực tiếp đe dọa sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhất là các mô hình nuôi tôm, cá tra – những đối tượng cần lượng nước ngọt lớn để duy trì chất lượng ao nuôi.
Việc đưa ra các quy định chặt chẽ về bảo vệ nước ngầm giúp giảm khai thác tự phát, tăng cường giám sát và đưa hoạt động này vào quy hoạch tổng thể. Đây là nền tảng quan trọng để đảm bảo an ninh nguồn nước.
Văn bản 41/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước quy định chi tiết thi hành khoản 4 Điều 22, khoản 9 Điều 24, điểm b khoản 2 Điều 26, khoản 8 Điều 31, khoản 3 Điều 39 của Luật Tài nguyên nước về phân vùng chức năng nguồn nước mặt; xác định, điều chỉnh dòng chảy tối thiểu; xác định và tổ chức việc công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật Tài nguyên nước; lập, điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất; bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
HÀ NỘI UBND thành phố Hà Nội vừa xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo Kịch bản nguồn nước.
Hà Nội phấn đấu kiểm soát 90% hoạt động khai thác, sử dụng nước
Hà Nội xây dựng Bộ chỉ số phục vụ điều hành thời gian thực
Hà Nội triển khai xây dựng đô thị thông minh
Hà Nội quyết làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai trước 15/11
UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Công văn số 5054/UBND-NNMT, yêu cầu xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình.
UBND thành phố Hà Nội vừa xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo kịch bản nguồn nước. Ảnh: Nguyễn Hà.
Theo chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nhiệm vụ cập nhật, đăng tải thường xuyên các quyết định công bố kịch bản nguồn nước lên Cổng thông tin điện tử của Sở, đồng thời xây dựng kế hoạch khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản phù hợp với các Kịch bản nguồn nước đã được phê duyệt.
Công văn cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp chặt chẽ với UBND các phường, xã trong việc kiểm soát khai thác nước dưới đất. Việc này nhằm hạn chế nguy cơ hạ thấp mực nước ngầm, sụt lún nền đất và xâm nhập mặn. Cùng với đó, các đơn vị liên quan phải tăng cường rà soát việc đăng ký, kê khai và cấp phép khai thác tài nguyên nước theo đúng quy định pháp luật.
Sở Xây dựng được giao xây dựng kế hoạch khai thác tài nguyên nước phục vụ sản xuất và cấp nước sinh hoạt, đảm bảo đồng bộ với các kịch bản nguồn nước hiện hành.
Đáng chú ý, UBND các địa phương cơ sở sẽ chịu trách nhiệm kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động khai thác nước dưới đất tại các khu vực cấm hoặc hạn chế, theo đúng quy định tại Nghị định số 53/2024/NĐ-CP và Nghị định số 54/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Các trường hợp chưa kê khai, đăng ký khai thác sẽ bị đôn đốc xử lý, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về tài nguyên nước và hành nghề khoan nước dưới đất.
Song song với công tác triển khai tại cơ sở, Thành phố cũng yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tiết kiệm nước, sử dụng hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này.
Cùng với đó, Trung tâm Truyền thông, Dữ liệu và Công nghệ số Thành phố được giao nhiệm vụ cập nhật liên tục kịch bản nguồn nước lên Cổng thông tin điện tử của thành phố, đảm bảo thông tin luôn được công khai minh bạch theo đúng quy định tại khoản 6 Điều 41 Nghị định 53/2024/NĐ-CP.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/
|
|
Hiện vùng Đông Gia Lai (Bình Định cũ) còn 12 hồ chứa đã xuống cấp, nguy cơ mất an toàn; đây là nỗi lo lớn của ngành chức năng khi mùa mưa lũ cận kề…
Quảng Trị khẩn trương sơ tán dân, bảo vệ mùa màng và an toàn hồ đập
Trực 24/24 tại các công trình thủy lợi mùa mưa bão
Hồ, đập lớn trước mùa mưa lũ: Giữ 'xanh' nguồn nước từ đập Bái Thượng
Nhiều hồ chứa tiềm ẩn nguy cơ
Theo ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai mới có 283 hồ chứa lớn nhỏ; trong đó, có 87 hồ chứa có quy mô lớn, 49 hồ vừa và 147 hồ nhỏ. Riêng vùng Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ) có 164 hồ chứa; trong đó, có 62 hồ có quy mô lớn, 37 hồ vừa và 65 hồ nhỏ; có 36 hồ chứa có cửa van và 128 hồ có tràn tự do.
Qua công tác kiểm tra an toàn hồ đập trước mùa bão lũ năm 2025, ngành chức năng Gia Lai phát hiện trên địa bàn còn nhiều hồ chứa vừa và nhỏ do xây dựng cách đây đã hơn 40 năm, từ đó đến nay các đập đất chưa được gia cố mái thượng lưu, nền và thân đập bị thấm, kích thước mặt cắt ngang không đảm bảo do bị sạt trượt, không có vật thoát nước hạ lưu đập.
Thêm vào đó, tràn xả lũ chủ yếu là tràn tự nhiên nên bị xói lở phía hạ lưu; một số tràn làm bằng bê tông hoặc đá xây do “tuổi tác” đã cao nên hiện cũng đã hư hỏng, bong tróc vữa xây các tường cánh, bể tiêu và mái kênh xả sau tràn bị xói lở.
Hiện ở vùng Đông Gia Lai còn 12 hồ chứa nhỏ xuống cấp, nguy cơ mất an toàn; trong đó, có 11 hồ phải hạn chế tích nước và 1 hồ không được tích nước. Ảnh:V.Đ.T.
Cống lấy nước loại cống nút chai bị hư hỏng, rò rỉ dọc thân cống, khó vận hành; đối với các cống có van đóng mở qua nhiều năm sử dụng giờ cũng thường bị kẹt, rò rỉ nước. Đường quản lý vận hành hồ kết hợp cứu nạn, cứu hộ hầu hết là đường đất, nhỏ hẹp, khó đi lại, thường bị chia cắt khi có mưa lũ. Nhà quản lý công trình đầu mối hầu hết còn thiếu hoặc được xây dựng từ lâu hiện đã bị xuống cấp, hư hỏng; không có trang thiết bị phục vụ quản lý, nếu có chủ yếu là thủ công, chưa đáp ứng công tác quản lý, bảo vệ công trình.
“Trong 164 hồ chứa ở vùng phía Đông Gia Lai, trong đó có 62 hồ chứa lớn và 1 hồ chứa vừa do Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) Bình Định quản lý, vận hành; Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh quản lý 2 hồ chứa nhỏ; các địa phương quản lý 99 hồ, trong đó, có 36 hồ chứa vừa và 63 hồ chứa nhỏ”, ông Vũ Ngọc An cho hay.
Hồ chứa nhỏ, nỗi lo lớn
Kết quả kiểm tra an toàn hồ đập của ngành chức năng tỉnh Gia Lai cho thấy, trong 63 hồ chứa do Công ty TNHH KTCTTK Bình Định quản lý; trong đó, có 32 hồ được đánh giá an toàn mức A, 31 hồ được đánh giá an toàn mức B. Hai hồ chứa nhỏ do Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh quản lý được đánh giá an toàn mức B. Trong 99 hồ do các địa phương quản lý có 28 hồ được đánh giá an toàn mức A, 61 hồ được đánh giá an toàn mức B; đặc biệt, trong đó có 12 hồ chứa nhỏ được đánh giá nguy cơ mất an toàn cao; phải hạn chết tích nước 11 hồ, 1 hồ không được tích nước là hồ Bàu Sen ở xã Bình Phú.
“Trong 12 hồ có nguy cơ mất an toàn cao, hiện có 2 hồ Hóc Quăn và Thuận An đã được bố trí vốn sửa chữa, nâng cấp; 10 hồ còn lại là các hồ: Lòng Bong, Nam Hương, Bàu Dài, Bàu Sen, Hòa Mỹ, Hóc Bông, Hóc Sanh, Thủy Dé, Hóc Huy… chưa được bố trí kinh phí; riêng hồ Bàu Sen hiện do xuống cấp nghiêm trọng, không được tích nước hiện ngành chức năng Gia Lai đang đề xuất nguồn vốn sửa chữa từ quỹ phòng chống thiên tai của tỉnh”, ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho hay.
Giai đoạn 2021-2025, vùng Đông Gia Lai đã có nhiều nỗ lực nâng cấp, sửa chữa 12 hồ chứa nước. Ảnh: V.Đ.T.
Cũng theo ông An, trong 63 hồ chứa do Công ty TNHH KTCTTL Bình Định quản lý có 38 hồ có đập bị thấm; trong đó thấm nặng 6 hồ, gồm: Hồ Thạch Khê bị thấm nền chân đập, hồ Hóc Mít bị thấm nền, hồ Cây Sung bị thấm vai phải cống lấy nước, hồ Tân Thắng bị thấm mái đập, hồ Hòn Lập bị thấm vai phải và giữa đập; 2 hồ bị biến dạng mái đập do sạt lở, trượt mái thượng và hạ lưu là hồ Phú Hà và hồ Tam Sơn; 3 hồ bị xói lở thân tràn, đuôi tràn và bể tiêu năng là các hồ An Đỗ, Hóc Cau và Văn Khánh Đức.
Các hồ do địa phương quản lý nhiều đập bị thấm, nhiều nhất là tại huyện Phù Mỹ cũ với 16 hồ; trong đó thấm nặng là 2 hồ Bàu Bạn và Thuận An; 10 hồ bị hư hỏng thân cống; huyện Tây Sơn cũ cũng có 13 hồ có đập bị thấm, trong đó có 7 hồ bị thấm nặng là Bàu Sen, Hóc Bông, Nam Hương, Hòa Mỹ, Truông Ổi, Bàu Làng, Bàu Năng…, hều hết trà xả lũ chưa được gia cố kiên cố.
“Giai đoạn 2021-2025, vùng Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ) đã có nhiều nỗ lực nâng cấp, sửa chữa nhiều công trình hồ chứa; trong đó có các hồ Cây Điều, Hóc Hảo, Đồng Quang, Đá Bàn, Nhà Hố, Giàn Tranh, Chánh Hùng, Đá Vàng, Cây Thích, Suối Cầu, Hải Nam, Hóc Thánh, 12 hồ chứa nói trên cùng khởi công vào tháng 9/2023 và đã hoàn thành trong tháng 5/2025”, ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho hay.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển thủy lợi
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển thủy lợi phục vụ nông nghiệp luôn có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội và đời sống của người nông dân.
Người từng nhấn mạnh: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”. Suốt 80 năm qua, công tác phát triển thủy lợi luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chăm lo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường đại thủy nông Bắc Hưng Hải ngày (25/12/1958). Ảnh: hochiminh.vn
Ngay khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc phục hồi và phát triển nền nông nghiệp nước nhà, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là công tácthủy lợi.
Ngày 29/2/1948, Người chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ bàn và ra nghị quyết một số việc, trong đó có việc thủy nông, sửa chữa và vét máng nước, làm thêm đê đập và máng nước cho tỉnh Phú Thọ, Thái Bình, tiếp tục đặt bơm nước ở Đô Lương, nghiên cứu và đặt ống nước bằng nứa ở Việt Bắc để làm vụ chiêm năm 1948.
Tháng 2/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ thành lập Hội đồng thủy nông để giúp việc đê điều và các công tác thủy nông.
Đầu năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm công trường Máng số 7, một công trình thủy lợi lớn của tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Nói chuyện với gần 2.000 cán bộ và dân công trên công trường, Người nói: “Ta có ruộng, phải biến ruộng đó thành thóc gạo. Muốn có thóc gạo phải cấy lúa, muốn lúa tốt phải có đủ nước, nhiều phân, giống tốt. Vì vậy, ta phải làm thủy lợi, phải cố gắng để chủ động trong tưới tiêu.
Bắc Hưng Hải - "Con rồng vàng" đánh thức vùng đồng bằng rộng lớn
Để giải quyết tình trạng “mười năm chín hạn”, “sống ngâm da, chết ngâm xương” cho các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Đảng, Nhà nước quyết định xây dựng đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Đây là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm, đê điều nhằm phục vụ việc tưới tiêu và thoát úng cho một vùng tứ giác nước được giới hạn bởi sông Hồng ở phía Tây, sông Đuống ở phía Bắc, sông Thái Bình ở phía Đông, và sông Luộc ở phía Nam. Mỗi tỉnh/thành Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đều có một phần địa bàn của mình trong tứ giác này.
Cống Xuân Quan lấy nước từ sông Hồng vào hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ ý Đảng, lòng dân. Ảnh: Quang Dũng.
Tổng chiều dài của hệ thống kênh chính là 200 km. Nước tưới được lấy từ sông Hồng chủ yếu qua cống Xuân Quan. Nước tiêu chủ yếu qua các cống Cầu Xe, An Thổ. Ngoài ra còn có một số trạm bơm kết hợp tưới - tiêu trực tiếp với các sông lớn tại những vùng hẹp ven các sông Đuống, Luộc, Thái Bình.
Ngày 1/10/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bổ nhát cuốc đầu tiên tại công trường thi công cống Xuân Quan (Hưng Yên), mở đầu việc xây dựng công trình đại thủy nôngBắc Hưng Hải. Chỉ sau 7 tháng thi công, ngày 1/5/1959 công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải đã hoàn thành ngoài mong đợi với khối lượng công việc khổng lồ: Xây đúc 7.500m3 bê tông, xây lát đá 226.000m3, đào gần 3.000.000 m3 đất. Công trình bảo đảm cung cấp nước tưới cho hơn chục nghìn ha lúa, hoa màu, cây công nghiệp và tiêu úng cho gần 20.000 ha lưu vực.
Trong quá trình chuẩn bị và xây dựng hệ thống thủy lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 4 lần trực tiếp đến kiểm tra, thăm hỏi, động viên cán bộ và dân công làm việc trên công trường. Có lần, mặc dù trời mưa nặng hạt, đường lầy lội, Bác vẫn đến thăm anh em dân công đang đào kênh dẫn nước phía ngoài cống Xuân Quan.
Nói chuyện với khoảng 3 vạn dân công, công nhân, cán bộ trên công trường, Người nhấn mạnh: “Việc xây dựng công trình đại thủy lợi Bắc Hưng Hải là một chiến dịch. Trong chiến dịch này, ta phải có tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Các đảng viên, đoàn viên, thanh niên, công nhân, cán bộ phải làm gương mẫu. Phải cố gắng làm thế nào đảm bảo có đủ nước cho vụ chiêm sắp tới được thắng lợi, đem lại no ấm cho đồng bào”. Thực tế, mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.
Ông Trịnh Thế Trường - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải chia sẻ: “Việc xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là mục tiêu quốc gia, qua đó đáp ứng yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp”.
Ông Trịnh Thế Trường (giữa) và ông Nguyễn Văn Kình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên chia sẻ với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường về ý nghĩa, tầm quan trọng của hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Ảnh: Quang Dũng.
Không chỉ đối mặt với hạn hán, người dân trong vùng “tứ giác” Bắc Hưng Hải thời điểm ấy còn thường xuyên hứng chịu cảnh “chiêm khê mùa thối”, canh tác hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Vào vụ xuân thì không có nước để cày cấy, thậm chí khi cấy lúa xong rồi vẫn phải “lạy trời cho mưa”. Năm 1995, năng suất lúa bình quân chỉ đạt khoảng 1,3 tấn/ha, rất thấp.
Và, điều đáng mừng là khi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được đưa vào sử dụng, nước chảy đến đâu bà con mở mang diện tích trồng trọt đến đó, năng suất, sản lượng lúa không ngừng tăng lên. Đến nay, năng suất lúa bình quân trong vùng phục vụ của hệ thống đạt hơn 60 tạ ha/năm. Nhiều người ví Bắc Hưng Hải chính là “con rồng vàng” làm trỗi dậy một vùng châu thổ rộng lớn.
Ông Nguyễn Văn Kình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên, cũng chia sẻ, hệ thống Bắc Hưng Hải có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên nói riêng và 4 địa phương trong vùng phục vụ của hệ thống nói chung.
Rốn ngập Nam Hà thành vựa lúa trù phú
Tại Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm thủy lợi phải là phong trào toàn dân. Xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình và để thiệt hại cho nơi khác”, đặc biệt, phải định hướng đúng phương châm của Chính phủ: giữ nước là chính, thủy lợi hạng nhỏ là chính và nhân dân tự làm là chính”.
Sau thành công của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, nhiều công trình thủy nông ở miền Bắc được quan tâm đầu tư. Đặc biệt là hệ thống 6 trạm bơm điện Bắc Nam Hà, giải quyết tình trạng ngập úng cho “rốn ngập” các tỉnh Hà Nam, Nam Định cũ (nay là tỉnh Ninh Bình).
Sắc xanh bạt ngàn trên công trình thủy lợi Bắc Nam Hà. Ảnh: Quang Dũng.
Ông cha ta có câu "Bụt Nam Sang còn chê oản chiêm", như minh chứng cho nỗi thống khổ của người dân xứ này trước thiên tai.
Theo nhà nông học Bùi Huy Đáp trong cuốn "Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ", Nam Sang là huyện cổ của vùng đồng chiêm Nam Định và khu đồng trũng của huyện Lý Nhân, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Trước đây, khu vực này chỉ cấy được vụ lúa chiêm, còn các vụ khác thì bỏ hóa, nước ngập mênh mông, đi lại chỉ bằng thuyền.
Để giải quyết bài toán úng lụt, giúp nhân dân thâm canh tăng vụ, dẫu trong thời kỳ kháng chiến đang ở giai đoạn khốc liệt, miền Bắc hứng chịu những thiệt hại to lớn, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề nghị Chính phủ Liên Xô hỗ trợ để xóa bỏ vùng trũng này.
Đáp lại đề nghị đó, đoàn chuyên gia Liên Xô đã sang nghiên cứu khảo sát. Năm 1962, lần đầu tiên toàn bộ khu vực phía bắc tỉnh Nam Hà (cũ) được nghiên cứu lập quy hoạch tiêu thoát nước để phát triển sản xuất (gọi tắt là Quy hoạch 1962).
Những vùng đất 'mười năm chín hạn' ở Hải Dương, Hưng Yên hay 'rốn ngập' Nam Hà vùng đồng bằng sông Hồng đã được 'đánh thức' nhờ nguồn nước từ hệ thống thủy lợi, trở thành những vùng sản xuất nông nghiệp trù phú.
Căn cứ vào điều kiện địa hình, Quy hoạch 1962 (tiền thân của hệ thống thủy lợiBắc Nam Hà) đã xác định toàn vùng có khoảng 77.500ha trũng thấp chỉ cấy được 1 vụ lúa chiêm, bắt buộc phải tiêu bằng động lực. Số diện tích còn lại là gần 7.900ha bao gồm 6 xã khu vực bắc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (gần 2.400ha) và khu vực Độc Bộ thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (gần 5.500ha) là vùng đất cao tiêu tự chảy ra sông Châu và sông Đáy.
Từ năm 1964 đến năm 1972, với sự giúp đỡ của Chính phủ Liên Xô, 6 trạm bơm điện lớn đã được Nhà nước đầu tư xây dựng là Cốc Thành, Cổ Đam, Hữu Bị, Vĩnh Trị, Nhâm Tràng và Như Trác tạo thành Hệ thống 6 trạm bơm điện lớn Bắc Nam Hà hay còn gọi Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà.
Chỉ tay vào tấm bản đồ hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà, ông Trần Văn Dũng - Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hà chỉ cho chúng tôi nơi những dòng kênh thủy lợi đi qua hiện lên như những bức tường bằng nước đang ngày đêm bảo vệ khu vực trũng nhất đồng bằng Bắc Bộ trước những cơn “giận dữ” của thiên nhiên. Ông bảo, cứ mỗi lần mưa lớn là hệ thống lại được vận hành, nhanh chóng bơm tốc lực để chống ngập cả vùng”, ông Dũng nói.
Kiến tạo những kho nước vùng trung du, miền núi
PGS. TS Đỗ Văn Thành, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trong giai đoạn 1961 - 1975, nhiều hồ chứa ở trung du miền núi cũng được xây dựng để tích nước vào mùa mưa, giảm lũ, cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt, điển hình là hồ Nậm Rốm (tỉnh Điện Biên) năm 1963.
Trong giai đoạn 1965 - 1975, thủy lợi vừa phải bảo vệ, ngụy trang, sửa chữa các công trình, vừa tập trung phát triển thủy lợi ở miền núi, trung du. Đây là giai đoạn có nhiều cán bộ thủy lợi và nhân dân hy sinh trong quá trình bảo vệ và xây dựng các công trình thủy lợi.
Nhiều hệ thống công trình được đầu tư xây dựng như hồNúi Cốc(tỉnh Thái Nguyên), hồ Cấm Sơn (tỉnh Bắc Giang cũ, nay là tỉnh Bắc Ninh), hồ Đồng Mô (tỉnh Vĩnh Phúc cũ và Hà Nội, nay thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội), hồ Sông Mực, hồ Núi Một (tỉnh Thanh Hóa), kênh tiêu Vách Bắc (tỉnh Nghệ An), hồ Trung Thuần (tỉnh Quảng Bình cũ, nay là tỉnh Quảng Trị).
Bên cạnh đó, ngành thủy lợi xây dựng những công trình vừa làm nhiệm vụ phát điện, vừa giải quyết nước tưới, tiêu úng, chống lũ cho đồng bằng Bắc Bộ. Tính đến năm 1975, miền Bắc đã xây dựng và đưa vào khai thác được hơn 1.300 công trình thủy nông, hệ thống thủy lợi có thể tưới cho 1,1 triệu ha và tiêu cho 720.000 ha.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|