Tin tức sự kiện

Hà Nội triển khai 5 nhóm giải pháp xử lý ô nhiễm nước các dòng sông

UBND TP. Hà Nội xây dựng kế hoạch với 5 nhóm giải pháp để tăng cường công tác kiểm soát, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại các dòng sông ô nhiễm. 

Hà Nội thông tin về thực trạng giải quyết ô nhiễm sông Nhuệ

Hà Nội: Quyết liệt làm sạch sông Tô Lịch

Tìm nước sạch cho dòng sông ô nhiễm: [Bài 3] Hơn 400 tỷ đồng hoàn thiện hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải

Thu gom, xử lý nước thải và bổ cập để duy trì dòng chảy để phục hồi các dòng sông Tô Lịch. Ảnh: Thành Long.Thu gom, xử lý nước thải và bổ cập để duy trì dòng chảy để phục hồi các dòng sông Tô Lịch. Ảnh: Thành Long.

Thu gom, xử lý nước thải và bổ cập để duy trì dòng chảy để phục hồi các dòng sông Tô Lịch. Ảnh: Thành Long.

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 168/KH-UBND nhằm triển khai các giải pháp cấp bách để tăng cường công tác kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước tại các lưu vực sông Nhuệ - Đáy, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu Bây và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải trên địa bàn thành phố.

Theo đó, mục tiêu của kế hoạch là nâng cao hiệu quả kiểm soát, xử lý ô nhiễm nước tại các lưu vực sông nêu trên. Đồng thời, thành phố cũng đề ra yêu cầu tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị liên quan trong công tác bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng và quản lý sông. Việc thực hiện sẽ được tích hợp với các kế hoạch, chương trình hành động liên quan đã được ban hành trước đây và còn hiệu lực.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, UBND thành phố xây dựng kế hoạch với 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Đó là: Đầu tư công trình thu gom - xử lý nước thải; Xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý các nguồn thải ra các lưu vực sông; Đánh giá diễn biến chất lượng nước; Tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất; xử lý nghiêm vi phạm xả thải; Truyền thông sâu rộng tới người dân và doanh nghiệp về trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Về đầu tư, Hà Nội chủ trương đầu tư các công trình thu gom và xử lý nước thải đô thị, làng nghề; huy động mọi nguồn lực để xây dựng hệ thống quan trắc tự động đối với các nguồn xả thải có lưu lượng lớn.

Đồng thời sẽ tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý các nguồn thải ra các lưu vực sông; đồng thời triển khai công tác quản lý, kiểm soát, giám sát từng nguồn thải theo nguyên tắc: cấp nào, đơn vị nào phê duyệt hoặc cấp giấy phép môi trường thì sẽ chịu trách nhiệm kiểm soát. Đáng chú ý, thành phố kiên quyết không cấp phép đầu tư, không cấp giấy phép môi trường và không phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án, cơ sở không đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Về giám sát, UBND thành phố yêu cầu đánh giá diễn biến chất lượng nước; rà soát lại mạng lưới các điểm quan trắc và bổ sung thêm các điểm, trạm quan trắc, bao gồm cả quan trắc tự động, liên tục tại các khu vực đặc biệt ô nhiễm. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra định kỳ và đột xuất cũng được tăng cường; các hành vi vi phạm về xả thải sẽ bị xử lý nghiêm, thậm chí yêu cầu đình chỉ hoạt động hoặc nâng cấp hệ thống xử lý nước thải nếu không đáp ứng tiêu chuẩn.

Một trong những giải pháp được xem là then chốt chính là đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho người dân và doanh nghiệp về trách nhiệm bảo vệ môi trường. Đồng thời, thành phố sẽ phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư vào công tác bảo vệ môi trường nước.

Ngoài ra, thành phố cũng yêu cầu triển khai 14 nhiệm vụ cụ thể, trong đó tập trung vào các hoạt động nổi bật như: hoàn thiện danh mục nguồn thải có ảnh hưởng đến chất lượng nước tại các lưu vực sông; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở xả thải; đồng thời tiến hành quan trắc và đánh giá diễn biến chất lượng nước tại các lưu vực này.

Nguồn: baotainguyenvamoitruong.vn

Hà Nội triển khai 5 nhóm giải pháp xử lý ô nhiễm nước các dòng sông

 

Thay thế các nhà máy nước không phù hợp quy hoạch

Tại thành phố Hải Phòng, các nhà máy nước nông thôn không bảo đảm hoạt động bền vững, không phù hợp với quy hoạch sẽ phải dừng hoạt động.

Hải Phòng giám sát các nguồn thải lớn, có nguy cơ ô nhiễm môi trường

Nhiều khó khăn trong phân loại rác tại nguồn ở Hải Phòng

Nuôi thỏ tuần hoàn lợi nhuận hàng trăm triệu đồng mỗi năm

Nuôi 1.500 con thỏ kết hợp trùn quế, thu lợi cả trăm triệu đồng mỗi năm

Nhiều nhà máy nước phải dừng hoạt động

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, đến nay UBND các huyện trên địa bàn thành phố đã hoàn thành việc rà soát, đối chiếu với các quy hoạch nông thôn mới, định hướng quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật của địa phương và đề xuất Sở Xây dựng cập nhật vào quy hoạch cấp nước đối với 14 nhà máy nước.

Đối với việc chấm dứt hoạt động các nhà máy nước quy mô nhỏ và trung bình theo chỉ đạo của UBND thành phố, từ cuối năm 2023 đến nay, đã thay thế và thống nhất được phương án thay thế đối với 41 nhà máy nước không phù hợp quy hoạch. Trong đó, 18 nhà máy dừng hoàn toàn; 10 nhà máy dừng cấp nước sinh hoạt đã có nhà máy nước đô thị hoặc nhà máy nước nông thôn quy mô lớn thay thế; 13 nhà máy đã thống nhất phương án, đang thực hiện lắp đặt hệ thống đường ống để chuyển đổi nguồn cấp.

Đơn vị chức năng đã hoàn thành việc lắp đặt đường ống cấp nước từ các nhà máy nước đạt quy chuẩn để thay thế đối với 28/41 nhà máy. Đồng thời, vận động nhân dân đóng góp hoàn trả kinh phí đối với các nhà máy đã thống nhất phương án và thực hiện việc lắp đặt đường ống thay thế với 13 nhà máy nước còn lại.

Đoàn giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hải Phòng tại nhà máy nước Đại Đồng (huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Ảnh: Nguyễn Hải.Đoàn giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hải Phòng tại nhà máy nước Đại Đồng (huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Ảnh: Nguyễn Hải.

Đối với việc chấm dứt hoạt động đối với các nhà máy nước nông thôn cấp nước không bảo đảm hoạt động bền vững, không phù hợp với quy hoạch, đến tháng 3/2025, khu vực nông thôn và quận An Dương, thành phố Thuỷ Nguyên, còn 74 nhà máy nước nông thôn đang cấp nước cho sinh hoạt. Trong đó, 60/74 nhà máy nước không phù hợp với quy hoạch cần chấm dứt hoạt động trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2027.

Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang thực hiện việc kiểm tra, xác định hiện trạng tài sản của các nhà máy nước đã dừng hoạt động làm cơ sở cho UBND các xã (đơn vị quản lý tài sản) thực hiện việc xác định giá trị tài sản để thanh lý. Bên cạnh đó, yêu cầu các đơn vị quản lý nhà máy nước được cập nhật, bổ sung vào quy hoạch hoàn trả lại phần kinh phí từ ngân sách nhà nước đã đầu tư. Sở cũng đã hoàn thành việc rà soát, xác định giá trị tài sản nhà nước đã đầu tư đối với 14 nhà máy nước được bổ sung vào quy hoạch.

 Nhiều khó khăn, vướng mắc

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, việc thay thế các nhà máy nước trên địa bàn thành phố đang gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc.

Cụ thể, số lượng các nhà máy nước cần thay thế trong giai đoạn từ nay đến năm 2027 là rất nhiều, dẫn đến việc bố trí nguồn kinh phí để triển khai thực hiện (bao gồm kinh phí hoàn trả cho các tổ chức, cá nhân đã đầu tư tăng thêm và kinh phí lắp đặt thay thế hệ thống đường ống cấp nước mới) cần huy động nguồn vốn lớn. Đồng thời, các nhà máy nước cần thay thế hiện đang cấp nước cho khoảng 132.351 hộ sử dụng nước; các nhà máy nằm phân tán tại cả 6 quận huyện và thành phố Thủy Nguyên, nên việc đầu tư xây dựng hệ thống đường ống phân phối nước từ các nhà máy nước đô thị thay thế cho các nhà máy nước phải dừng hoạt động cần rất nhiều thời gian.

Nhà máy nước Tân Thanh (huyện Kiến Thuỵ). Ảnh: Hoàng Phong.Nhà máy nước Tân Thanh (huyện Kiến Thuỵ). Ảnh: Hoàng Phong.

Không những vậy, việc đầu tư phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch và pháp luật về đầu tư nên cần phải nhiều thời gian để thực hiện. Trong khi đó, một số nhà máy nước nông thôn quy mô lớn đủ năng lực thay thế nhưng không phù hợp với quy hoạch, nên không có cơ sở để thực hiện. Thậm chí, một số nhà máy nước đã được đơn vị quản lý đầu tư nâng cấp thường xuyên trong suốt quá trình khai thác với quy mô rất lớn (từ 5.000 đến 12.000 m3/ngày đêm); nhiều đơn vị đã thay thế toàn bộ hệ thống đường ống phân phối trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới từ năm 2017 đến nay… nên kinh phí đầu tư còn lại khá lớn, dẫn đến việc vận động nhân dân đóng góp hoàn trả rất khó khăn.

Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết, đơn vị đề nghị UBND các quận, huyện đẩy nhanh tiến độ rà soát, xác định giá trị tài sản còn lại để làm cơ sở cho việc vận động xã hội hóa nguồn kinh phí chi trả cho các nhà máy nước phải dừng hoạt động. Sở Xây dựng Hải Phòng sớm trình UBND thành phố ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch cấp nước thành phố, làm cơ sở cho việc đầu tư, nâng cấp các nhà máy nước nông thôn phù hợp với quy hoạch, ổn định tình hình cấp nước tại các địa phương.

 Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Thay thế các nhà máy nước không phù hợp quy hoạch

 

Cấp tỉnh được công bố vùng lấy nước sinh hoạt liên tỉnh

UBND tỉnh có thẩm quyền công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt đối với các công trình nằm trên địa bàn hai tỉnh trở lên.

Hội nghị tập huấn hoạt động phân cấp, phân quyền tại cấp xã

Thủ tướng: Triển khai các nghị định phân cấp, phân quyền, không để ngắt quãng

Hoàn thiện chính sách phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực nông nghiệp môi trường

Phân cấp, gắn trách nhiệm quản lý tài nguyên khoáng sản

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 136/2025/NĐ-CP quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Cụ thể hóa thẩm quyền, tăng tính chủ động cho địa phương

Nghị định này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (trừ lĩnh vực đất đai) được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ cần điều chỉnh để thực hiện phân cấp, phân quyền.

Trong đó, Nghị định nêu rõ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật (chương II); lĩnh vực chăn nuôi và thú y (chương III); thủy sản và kiểm ngư (chương IV); lâm nghiệp và kiểm lâm (chương V); lĩnh vực thủy lợi (chương VI); lĩnh vực tài nguyên nước (chương IX); lĩnh vực môi trường (chương XI); bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học (chương XIII); khí tượng thủy văn (chương XIV); quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo (chương XV); lĩnh vực viễn thám (chương XVI); 

Phân cấp trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (chương VIII).

Phân quyền trong lĩnh vực đê điều (chương VII); lĩnh vực địa chất và khoáng sản (chương X); biến đổi khí hậu (chương XII); lĩnh vực đo đạc và bản đồ (chương XVII).

UBND tỉnh công bố danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp đối với nguồn nước mặt liên tỉnh

Đáng chú ý, chương IX của Nghị định quy định về phân cấp, phân quyền lĩnh vực tài nguyên nước nêu rõ, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong lĩnh vực tài nguyên nước phân quyền, phân cấp cho UBND cấp tỉnh thực hiện.

Theo đó, UBND cấp tỉnh được Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân quyền thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng gồm: xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt đối với các công trình có vùng bảo hộ nằm trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên; và lập, công bố, điều chỉnh danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp đối với nguồn nước mặt liên tỉnh.

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập danh mục trên địa bàn tỉnh mình, kể cả trong trường hợp các hồ, ao, đầm, phá trải dài qua hai tỉnh trở lên. Ảnh: Minh Hoàng.UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập danh mục trên địa bàn tỉnh mình, kể cả trong trường hợp các hồ, ao, đầm, phá trải dài qua hai tỉnh trở lên. Ảnh: Minh Hoàng.

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập danh mục trên địa bàn tỉnh mình, kể cả trong trường hợp các hồ, ao, đầm, phá trải dài qua hai tỉnh trở lên. Ảnh: Minh Hoàng.

Đối với nhiệm vụ thứ hai, trình tự thực hiện được quy định cụ thể, theo đó UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập danh mục trên địa bàn tỉnh mình, kể cả trong trường hợp các hồ, ao, đầm, phá trải dài qua hai tỉnh trở lên.

Quá trình xây dựng danh mục phải có sự tham vấn ý kiến của các sở, ngành, tổ chức, cá nhân liên quan, cũng như lấy ý kiến các tỉnh có liên quan.

Sau khi tổng hợp và tiếp thu ý kiến, UBND cấp tỉnh sẽ phê duyệt danh mục và công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và cổng thông tin điện tử.

Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh còn được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân cấp thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng khác trong lĩnh vực tài nguyên nước như: cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; chấp thuận phương án chuyển nước đối với một số loại dự án nhất định;

Phê duyệt, điều chỉnh và truy thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; cấp phép thăm dò và khai thác nước dưới đất và nước mặt có quy mô trung bình đến lớn (từ 3.000 đến dưới 5.000 m³/ngày đêm hoặc từ 2 đến dưới 10 m³/giây tùy theo loại công trình);

Quản lý các công trình ngăn sông, suối, kênh, mương phục vụ các mục tiêu tạo nguồn, chống ngập, ngăn mặn, tạo cảnh quan, với quy mô trung bình có chiều dài hoặc chiều rộng thông nước từ 50 đến dưới 100 mét;...

Bộ trưởng Bộ NN-MT ban hành tiêu chí bảo vệ môi trường nông thôn 

Trong lĩnh vực môi trường, Nghị định quy định, nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ phân quyền cho Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND cấp tỉnh.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phân quyền cho Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện nhiệm vụ ban hành tiêu chí về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển nông thôn theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 58 Luật Bảo vệ môi trường; đồng thời, phê duyệt Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 109 Luật này.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cũng phân quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ ban hành kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 15 Luật Bảo vệ môi trường, cụ thể hóa tại điểm c khoản 1 Điều 19 của Luật và khoản 1 Điều 18 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP.

Về phía Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực môi trường cũng được phân quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện, trong đó có việc xây dựng kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường và khoản 1 Điều 18 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP.

Đồng thời, UBND cấp tỉnh được giao chỉ đạo và tổ chức quản lý bùn nạo vét từ kênh, mương và công trình thủy lợi thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo khoản 7 Điều 61 Luật Bảo vệ môi trường. Ngoài ra, UBND cấp tỉnh còn có trách nhiệm ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh theo khoản 5 Điều 79 của Luật.

Thủ tướng Chính phủ phân quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ ban hành kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng. Ảnh: Minh Hoàng.Thủ tướng Chính phủ phân quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ ban hành kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng. Ảnh: Minh Hoàng.

Thủ tướng Chính phủ phân quyền cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ ban hành kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng. Ảnh: Minh Hoàng.

Đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép môi trường (nếu thuộc đối tượng cấp phép) đối với các dự án đầu tư vốn thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ, theo khoản 1 Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường, trừ sáu nhóm trường hợp cụ thể:

Thứ nhất, Dự án đầu tư đã được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (trừ dự án trên địa bàn từ 2 tỉnh trở lên nhưng đã giao cho một UBND cấp tỉnh hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh làm cơ quan quyết định đầu tư);

Thứ hai, Dự án thuộc thẩm quyền cấp giấy phép về khai thác khoáng sản, tài nguyên nước, nhận chìm ở biển hoặc giao khu vực biển của Bộ Nông nghiệp và Môi trường;

Thứ ba, Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung;

Thứ tư, Dự án có quy mô sử dụng đất, mặt nước lớn (trừ các dự án thủy điện, trồng cây hằng năm, cây lâu năm hoặc sản xuất cây giống nông nghiệp);

Thứ năm, Dự án đầu tư trong khu/cụm công nghiệp thuộc nhóm ngành có nguy cơ ô nhiễm cao như xử lý chất thải nguy hại, sử dụng phế liệu nhập khẩu, hoặc mở rộng cơ sở được miễn đấu nối có lưu lượng nước thải thuộc diện quan trắc định kỳ trở lên;

Thứ sáu, Dự án nằm ngoài khu/cụm công nghiệp nhưng thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm với mức công suất lớn được liệt kê tại Phụ lục II Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP (trừ dự án chăn nuôi gia súc và cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm).

Nguồn: baonongnghiepmoitruong.vn

Cấp tỉnh được công bố vùng lấy nước sinh hoạt liên tỉnh

 

Bài học kinh tế tuần hoàn từ mỗi giọt nước của HEINEKEN Việt Nam

Không chỉ tối ưu vận hành, HEINEKEN Việt Nam tiên phong tái sử dụng nước, phục hồi rừng, hợp tác cộng đồng bảo vệ tài nguyên, hướng tới mục tiêu bù hoàn nước năm 2030.

Bà Phạm Thị Trúc Thanh, Giám đốc Phát triển Bền vững HEINEKEN Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn. Ảnh: Hồng Thủy.Bà Phạm Thị Trúc Thanh, Giám đốc Phát triển Bền vững HEINEKEN Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn. Ảnh: Hồng Thủy.

Bà Phạm Thị Trúc Thanh, Giám đốc Phát triển Bền vững HEINEKEN Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn. Ảnh: Hồng Thủy.

Là một trong những ngành sử dụng nước nhiều nhất, ngành bia luôn đối mặt với thách thức kép: vừa đảm bảo hiệu quả vận hành, vừa phải bảo vệ nguồn nước cho hệ sinh thái và cộng đồng. Với HEINEKEN Việt Nam, những thách thức đó đã được biến thành động lực để đổi mới toàn diện theo hướng kinh tế tuần hoàn trong quản lý tài nguyên nước.

Chia sẻ tại Diễn đàn “Quản lý nguồn nước trong sản xuất công nghiệp Việt Nam 2025” do Cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp cùng Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sáng 6/6, bà Phạm Thị Trúc Thanh, Giám đốc Phát triển Bền vững HEINEKEN Việt Nam khẳng định, doanh nghiệp không chỉ tiếp cận nước như một yếu tố vận hành, mà còn coi đây là trọng tâm chiến lược trong phát triển bền vững. Đến năm 2030, HEINEKEN đặt mục tiêu bù hoàn 100% lượng nước tại các khu vực khan hiếm và nâng cao hiệu suất sử dụng nước xuống chỉ còn 2,6 hl/hl ở vùng khan hiếm và 2,9 hl/hl toàn cầu.

Tại nhà máy Bà Rịa - Vũng Tàu, HEINEKEN đã đầu tư hệ thống tái chế nước (WRP), giúp giảm hơn 50% lượng nước sử dụng so với năm 2016. Đặc biệt, 100% lượng nước thải từ các nhà máy đều được xử lý đạt chuẩn loại A trước khi trả về môi trường. Không chỉ dừng lại ở xử lý, HEINEKEN còn triển khai mô hình “tái sử dụng” trong nội bộ, sử dụng nước sau xử lý cho các công đoạn không tiếp xúc sản phẩm như làm mát, vệ sinh, tưới cây…

Hệ thống xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến tại Nhà máy HEINEKEN VIỆT NAM (Vũng Tàu).Hệ thống xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến tại Nhà máy HEINEKEN VIỆT NAM (Vũng Tàu).

Hệ thống xử lý nước thải với công nghệ tiên tiến tại Nhà máy HEINEKEN VIỆT NAM (Vũng Tàu). 

Song song đó, doanh nghiệp cũng chú trọng cải tiến tiêu chuẩn quản lý, tối ưu hóa quy trình kỹ thuật để tiết kiệm nước ở từng khâu sản xuất. “Chúng tôi không dừng ở việc đạt chuẩn, mà luôn hướng tới vượt chuẩn, làm tốt hơn kỳ vọng", bà Phạm Thị Trúc Thanh nói.

Theo bà Trúc Thanh, kinh tế tuần hoàn không thể thành công nếu chỉ diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp. HEINEKEN đã hợp tác với nhà cung cấp và nông dân địa phương để áp dụng tiêu chuẩn canh tác bền vững, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước từ nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng nước từ đầu chuỗi.

Với cộng đồng, công ty nghiên cứu sâu về thách thức nguồn nước tại địa phương, đánh giá rủi ro (SVA), và triển khai các dự án cân bằng nước. Riêng tại lưu vực sông Tiền, HEINEKEN đã trồng hơn 847.000 cây, phục hồi hơn 1.100 ha rừng, hỗ trợ sinh kế cho 4.200 hộ dân và bù hoàn hơn 690 triệu lít nước. Năm 2022, công ty cùng chính phủ Việt Nam đầu tư 30 tỷ đồng cho các khu bảo tồn như Xuân Sơn, Đồng Nai và Đồng Tháp Mười.

Tuy nhiên, bà Thanh cũng thẳng thắn chia sẻ, dù công nghệ tái sử dụng nước đã có nhiều tiến bộ, để phát triển sâu và bền vững hơn, chúng ta vẫn cần tiếp tục cải tiến. Đồng thời, sự phối hợp giữa khu vực công và tư cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, bởi chỉ có hợp tác toàn diện mới giúp các giải pháp được thực thi hiệu quả và duy trì lâu dài.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Bài học kinh tế tuần hoàn từ mỗi giọt nước của HEINEKEN Việt Nam

 

'Nước sạch' về bản

YÊN BÁI Từ ngày được sử dụng nước sạch, sức khỏe trẻ em và phụ nữ được cải thiện hơn nhiều. Đó là chia sẻ của người dân thôn Ao Sen, xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn.

Sức khỏe cải thiện nhờ nguồn nước sạch

Với người dân thôn Ao Sen, xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn (Yên Bái), công trình cấp nước tập trung được Nhà nước đầu tư xây dựng tại thôn Bản Tạo không đơn thuần là một hệ thống dẫn nước mà còn là nguồn “nước sạch” quý giá, là cả một “mạch sống” mới. Nguồn nước được lấy từ khe suối đầu nguồn trên rừng, lọc qua hệ thống đảm bảo vệ sinh rồi dẫn về từng hộ, phục vụ cho 540 hộ dân thuộc các thôn Bản Tạo, Đồng Sặt, Văn Tứ, Ao Sen, Thác Vác...

Công trình cấp nước tập trung được đầu tư xây dựng tại thôn Bản Tạo cung cấp nước cho 540 hộ dân. Ảnh: Thanh Ngà.Công trình cấp nước tập trung được đầu tư xây dựng tại thôn Bản Tạo cung cấp nước cho 540 hộ dân. Ảnh: Thanh Ngà.

Công trình cấp nước tập trung được đầu tư xây dựng tại thôn Bản Tạo cung cấp nước cho 540 hộ dân. Ảnh: Thanh Ngà.

Cách đây hơn 10 năm, khi chưa có công trình nước hợp vệ sinh, người dân chủ yếu sử dụng nước từ suối hoặc tự đào giếng quanh nhà. Những dòng suối lẫn lá rừng, đất đỏ, nhiều khi đục ngầu sau mỗi trận mưa. Nguồn nước giếng dễ bị ô nhiễm bởi phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải sinh hoạt ngấm xuống lòng đất. Việc có nước để dùng đã là khó, nói gì đến nước hợp vệ sinh.

Nhớ lại khoảng thời gian đó, ông Hoàng Hữu Duyên, người dân thôn Ao Sen, xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn chia sẻ, khi chưa có nước hợp vệ sinh để sử dụng, người dân trong thôn thường xuyên mắc các bệnh như đau mắt đỏ, ngứa, mẩn đỏ, lở loét. Tình trạng đó chủ yếu do nguồn nước không đảm bảo vệ sinh gây ra. Kể từ khi được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh dẫn từ đầu nguồn trên rừng về, sức khỏe của người dân đã thay đổi rõ rệt. Các bệnh kể trên gần như không còn xuất hiện hoặc giảm đi rất nhiều.

Ông Duyên nhớ lại, những năm con còn nhỏ, trong độ tuổi từ một đến ba tuổi, khi chưa có nước hợp vệ sinh, hai con ông thường xuyên bị tiêu chảy, phải đưa đi bệnh viện liên tục. Chỉ đến khi các cháu lớn hơn, tình trạng này mới giảm.

Người dân phấn khởi khi được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh. Ảnh: Thanh Ngà.Người dân phấn khởi khi được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh. Ảnh: Thanh Ngà.

Người dân phấn khởi khi được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh. Ảnh: Thanh Ngà.

Ông cho biết thêm, trước đây, mỗi khi trong nhà có người bị bệnh, bà con phải đi bộ hoặc đi xe đạp vượt quãng đường khoảng ba cây số để đến trạm y tế xã. Khi đó, đường đi khó khăn, phương tiện còn hạn chế nên việc khám chữa bệnh rất vất vả. Hiện nay, nhờ hệ thống giao thông được đầu tư, ngành y tế phát triển, việc chăm sóc sức khỏe trở nên dễ dàng và kịp thời hơn. Tuy vậy, nếu chỉ chữa bệnh mà vẫn dùng lại nguồn nước bẩn thì bệnh rất dễ tái phát, nhất là các bệnh ngoài da. Chỉ khi có hệ thống nước hợp vệ sinh và dẫn về tận thôn thì sức khỏe của người dân mới thực sự được cải thiện rõ rệt.

Cũng nhớ lại khoảng thời gian cả thôn phải sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh, bà Hà Thị Chanh, người dân thôn Ao Sen, xã Đồng Khê cho biết, trước đây khi chưa có nguồn nước dẫn về, bà cùng nhiều phụ nữ trong thôn thường xuyên mắc các bệnh phụ khoa. Tình trạng này kéo dài trong nhiều năm và gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày. Từ khi có nước sạch để sử dụng, các bệnh ấy không còn xuất hiện nữa. Theo bà Chanh phấn khởi chia sẻ: “Từ khi có nước sạch, sức khỏe của mọi người được cải thiện rõ rệt, ai nấy đều cảm thấy khỏe mạnh hơn trước rất nhiều”.

Ông Hà Sơn Đông, Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cho biết, việc người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh đã góp phần ổn định đời sống, cải thiện rõ rệt điều kiện sinh hoạt. Trước đây, khi chưa có công trình cấp nước, người dân phải lấy nước từ mương, rãnh, các khe suối nhỏ chảy ra từ chân đồi, chân rừng. Những nguồn nước này không đảm bảo vệ sinh, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bệnh. Từ khi các công trình cấp nước tập trung được đưa vào sử dụng, chất lượng cuộc sống của người dân thay đổi đáng kể, ai cũng phấn khởi, yên tâm sử dụng nước cho sinh hoạt hằng ngày.

 Giữ rừng để giữ mạch nước 

Nguồn nước hợp vệ sinh mà người dân thôn Ao Sen đang sử dụng được dẫn từ những cánh rừng già trên núi cao - nơi mà người dân trong xã Đồng Khê từ bao đời vẫn gọi là “mạch sống của bản làng”. Chính vì vậy, công tác bảo vệ rừng, bảo vệ khe suối luôn được xã xác định là nhiệm vụ song hành cùng phát triển.

Nguồn nước hợp vệ sinh mà người dân xã Đồng Khê đang sử dụng được dẫn từ những cánh rừng già trên núi cao. Ảnh: Thanh Ngà.Nguồn nước hợp vệ sinh mà người dân xã Đồng Khê đang sử dụng được dẫn từ những cánh rừng già trên núi cao. Ảnh: Thanh Ngà.

Nguồn nước hợp vệ sinh mà người dân xã Đồng Khê đang sử dụng được dẫn từ những cánh rừng già trên núi cao. Ảnh: Thanh Ngà.

Chị Lộc Thị Bờ, Trưởng thôn Bản Tạo, xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn chia sẻ: “Thôn có hơn 200ha rừng đầu nguồn được bà con gìn giữ, bảo vệ nghiêm ngặt từ nhiều năm nay. Nhờ giữ rừng tốt, nơi đây hình thành mạch nước lớn, góp phần đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt cho người dân. Thôn Bản Tạo cũng là nơi được Nhà nước đầu tư xây dựng công trình cấp nước tập trung, cung cấp hợp vệ sinh cho các thôn lân cận. Người dân luôn ý thức rằng, bảo vệ rừng chính là cách bảo vệ nguồn nước của chính mình và của cả xã Đồng Khê.

Nhờ giữ rừng tốt, mạch nước trong vùng không những không cạn kiệt mà còn dồi dào quanh năm. Chính nhờ nguồn nước ấy, các công trình cấp nước tập trung tại xã Đồng Khê mới phát huy hiệu quả. Hiện toàn xã có 5 công trình cấp nước, trong đó có 2 công trình lớn và 3 công trình nhỏ, phân bố rải rác tại các thôn. Các công trình này đang phục vụ cho hơn 1.400 hộ dân, chiếm khoảng 96% tổng số hộ toàn xã.

Các công trình cấp nước tập trung phục vụ cho hơn 1.400 hộ dân, chiếm khoảng 96% tổng số hộ toàn xã. Ảnh: Thanh Ngà.Các công trình cấp nước tập trung phục vụ cho hơn 1.400 hộ dân, chiếm khoảng 96% tổng số hộ toàn xã. Ảnh: Thanh Ngà.

Các công trình cấp nước tập trung phục vụ cho hơn 1.400 hộ dân, chiếm khoảng 96% tổng số hộ toàn xã. Ảnh: Thanh Ngà.

Ông Hà Sơn Đông, Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cho biết, cùng với việc đầu tư hạ tầng cấp nước, chính quyền địa phương luôn chú trọng công tác tuyên truyền, tích cực vận động người dân không xả rác bừa bãi ra sông, suối; vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật được thu gom, xử lý đúng quy định nhằm đảm bảo an toàn cho nguồn nước sinh hoạt và sức khỏe cho người dân.

Trong thời gian tới, xã sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, gìn giữ rừng đầu nguồn và duy trì hiệu quả hoạt động của các công trình cấp nước tập trung. Theo ông Đông, đây là yếu tố then chốt để đảm bảo nguồn hợp vệ sinh ổn định, phục vụ lâu dài cho đời sống sinh hoạt của người dân.

Những năm qua, huyện Văn Chấn được đầu tư nhiều chương trình, dự án về cấp nước như Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình 134, 135, 30A...với các nguồn vốn đa dạng từ ngân sách Nhà nước, quốc tế, tín dụng và đóng góp của người dân. Năm 2020 là 92,78% đến hết năm 2024, tỷ lệ người dân nông thôn trong huyện sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 94,5%, trong đó 14,2% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

'Nước sạch' về bản

 
Trang 12345678910

Trang 6 trong tổng số 33 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2538
mod_vvisit_counterTrong tuần5853
mod_vvisit_counterTrong tháng5853
mod_vvisit_counterTất cả8581797

We have: 20 guests online