|
Ngày 6/8, Cục Quản lý tài nguyên nước có Văn bản số 1779/TNN-MC gửi các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk về việc vận hành các hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk ứng phó với mưa, lũ trong mùa lũ năm 2025.
Hiện nay, lưu vực sông Srêpốk đã bước sang thời gian mùa lũ theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1612/QĐ-TTg ngày 13/11/2019 (sau đây gọi là Quy trình vận hành liên hồ chứa). Để chủ động phòng ngừa, hạn chế tối đa những thiệt hại do mưa, lũ gây ra, đảm bảo an toàn phòng lũ, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước, Cục Quản lý tài nguyên nước đề nghị các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk tổ chức, thực hiện các nội dung sau:
Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến khí tượng thủy văn, thực hiện chế độ quan trắc, dự báo, cung cấp thông tin, số liệu và chế độ báo cáo theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa. Tuân thủ nghiêm túc quy trình vận hành hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và lệnh vận hành hồ của cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Đồng thời chủ động, sẵn sàng các phương án khi xuất hiện các tình huống bất thường trong quá trình vận hành công trình, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất về người và tài sản do lũ gây ra cho nhân dân vùng hạ du; chuẩn bị đầy đủ nguồn lực (gồm nhân lực, vật tư, phương tiện, trang thiết bị) để ứng phó với các tình huống bất thường có thể xảy ra.
Vận hành các hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk ứng phó với mưa, lũ trong mùa lũ năm 2025. Ảnh minh họa. (Ảnh: Ngọc Hà/TTXVN)
Khi xuất hiện các tình huống bất thường, tình huống mưa, lũ vượt tần suất thiết kế thì phải đề xuất phương án vận hành hồ chứa và báo cáo ngay tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định để xem xét, quyết định việc vận hành bảo đảm an toàn công trình, vận hành ứng phó các tình huống khẩn cấp; tăng cường thực hiện việc thông báo, cảnh báo sớm cho chính quyền địa phương các cấp, nhân dân và các hoạt động có liên quan trên sông suối ở khu vực hạ lưu đập, nhà máy vùng thượng, hạ lưu trước khi vận hành xả lũ qua tràn, xả lũ khẩn cấp, bắt đầu xả nước phát điện hoặc các trường hợp gia tăng đột ngột lưu lượng xả về hạ du.
Phối hợp chặt chẽ với Công ty TNHH MTV vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) và các Trung tâm điều độ hệ thống điện trong việc thực hiện huy động hiệu quả nguồn điện của các nhà máy thủy điện phù hợp với yêu cầu về vận hành giảm lũ cho hạ du, bảo đảm sử dụng nguồn nước an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.
Các hồ chứa phía thượng và hạ lưu phải thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin vận hành, kết quả dự báo lưu lượng, mực nước hồ và các phương án điều tiết vận hành để bảo đảm công tác phối hợp, vận hành điều tiết cắt, giảm lũ (trường hợp xảy ra mưa lũ) được thực hiện hiệu quả, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho nhân dân vùng hạ du. Đồng thời, thực hiện việc cung cấp thường xuyên, kịp thời số liệu vận hành hồ chứa tối thiểu 01 giờ/lần (khi có dự báo, cảnh báo bão khẩn cấp, áp thấp nhiệt đới gần bờ hoặc các hình thế thời tiết khác gây mưa lũ) lên Hệ thống quản lý dữ liệu vận hành hồ của Cục Quản lý tài nguyên nước (https://quanly.dwrm.gov.vn/hochua) phục vụ công tác theo dõi, giám sát và dự báo, cảnh báo mưa lũ trên các lưu vực sông.
Ngoài ra, để đảm bảo phục vụ công tác dự báo khí tượng thủy văn trên các lưu vực sông, đề nghị các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa cung cấp ngay các bản tin dự báo và số liệu quan trắc, tính toán theo quy định của các Quy trình vận hành liên hồ chứa về Cục Khí tượng Thủy văn qua địa chỉ hòm thư điện tử:
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
.
Nguồn: bonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Tuyên truyền pháp luật, nâng cao năng lực bảo vệ môi trường đóng vai trò đòn bẩy quan trọng để hướng đến nông nghiệp xanh.
Khoa học công nghệ phải xoáy vào nước, tưới tiêu và môi trường
Năm 2025, Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (IWE) tiếp tục chủ trì triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm lan tỏa ý thức tuân thủ pháp luật môi trường trong ngành nông nghiệp.
Trong những năm gần đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường liên tục tăng cường truyền thông pháp luật về môi trường, đặc biệt hướng đến các lĩnh vực trọng điểm như sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, hệ thống thủy lợi…
Trong đó, Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường là một trong những đơn vị tiên phong tổ chức nhiều chương trình truyền thông hiệu quả như các chiến dịch như chống ô nhiễm nhựa, bảo vệ nguồn nước thủy lợi, khánh thành công trình Cống Cầu Xe thuộc hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Các sự kiện thu hút hàng trăm cán bộ, đoàn viên, thanh niên và người lao động ngành thủy lợi tham gia thể hiện tinh thần trách nhiệm và lan tỏa ý thức môi trường tới cộng đồng.
Tuyên truyền hiệu quả không chỉ thay đổi nhận thức mà còn hình thành tư duy sản xuất nông nghiệp bền vững, góp phần cải thiện hiệu quả kinh tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hỗ trợ hoạch định chính sách môi trường. Kết quả từ các chiến dịch, đợt tập huấn đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực: địa phương chủ động triển khai kế hoạch môi trường, đơn vị sản xuất nâng cao trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên, cán bộ ngành tăng cường giám sát, thực thi.
Lễ phát động tuyên truyền môi trường tại Cống Cầu Xe (Hải Dương), năm 2023. Ảnh: Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (IWE).
Lễ phát động tuyên truyền môi trường tại Cống Cầu Xe (Hải Dương), năm 2023. Ảnh: Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường (IWE).
Không chỉ dừng lại ở truyền thông, công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn cũng là trọng tâm trong chuỗi hoạt động năm 2025. Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường dự kiến tổ chức chuỗi hội thảo tập huấn toàn quốc, nội dung bao gồm pháp luật về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi, thủy sản, ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý sinh khối và quản lý môi trường hệ thống thủy lợi. Đặc biệt, việc đánh giá sát nhu cầu địa phương giúp các chương trình được thiết kế linh hoạt, phù hợp thực tiễn.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Trung Á đang phải đối mặt một cuộc khủng hoảng nguồn nước ngày càng trầm trọng. Dù đạt không ít thành quả trong phối hợp, chuyển đổi cách tiếp cận từ cạnh tranh sang hợp tác, khu vực này vẫn cần thêm nhiều nỗ lực để tránh thảm họa liên quan nguồn nước trong tương lai.

(Ảnh minh họa: Tân Hoa Xã)
Trung Á đã trở thành một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trên thế giới về an ninh nguồn nước. Báo cáo Phát triển nước thế giới của Liên hợp quốc năm 2025 công bố mới đây nhấn mạnh “vùng đất của những thảo nguyên bao la” này là một trong những khu vực chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu lên tài nguyên nước.
Thực trạng đó đang gây nhiều lo ngại. Tại một hội nghị mới đây, lãnh đạo Kyrgyzstan nhấn mạnh, tình trạng thiếu nước ngọt ở các quốc gia Trung Á có thể lên tới 20%-30% vào năm 2050. Khoảng 82 triệu người ở Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan và Uzbekistan đang phải đối mặt tình trạng mất an ninh nguồn nước. Nhiều ngôi làng không được tiếp cận nước sạch thường xuyên.
Ảnh hưởng biến đổi khí hậu và diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp khiến làn sóng di cư trong nước gia tăng. Theo cảnh báo, đến năm 2050, hơn 5 triệu người Trung Á có thể đối mặt làn sóng di cư do biến đổi khí hậu.
Tình trạng mất an ninh nguồn nước Trung Á một phần là do tình trạng bất ổn định dòng chảy của các con sông trong khu vực, vốn liên quan trực tiếp sự suy giảm nhanh hơn mức bình thường khối lượng sông băng ở các vùng núi cao Trung Á. Điều này gây rủi ro lâu dài cho nông nghiệp, năng lượng, các hệ sinh thái và nguồn nước.
Trong khi đó, việc khai thác quá mức nước từ các con sông trong khu vực cũng gây nhiều hệ lụy. Đáng kể nhất, do thiếu nước từ sông đổ về, biển hồ Aral đã liên tục co lại, với diện tích bề mặt giảm tới 88% và độ mặn tăng gấp 20 lần. Vì đất đai nhiễm mặn, cằn cỗi và nguồn nước ô nhiễm, cộng đồng nông thôn Uzbekistan và Kazakhstan quanh hồ Aral đã rời đi hàng loạt.
Tình trạng mất an ninh nguồn nước Trung Á một phần là do tình trạng bất ổn định dòng chảy của các con sông trong khu vực, vốn liên quan trực tiếp sự suy giảm nhanh hơn mức bình thường khối lượng sông băng ở các vùng núi cao Trung Á.
Trung Á từ lâu đã coi tài nguyên nước có tầm quan trọng chiến lược. Theo tờ Daily Sabah, việc chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia trong khu vực chủ yếu được hình thành bởi khác biệt về vị trí địa lý và nhu cầu kinh tế. Ở thượng nguồn, Tajikistan và Kyrgyzstan, vốn kiểm soát hệ thống đập và dòng chảy theo mùa, sử dụng nước để sản xuất năng lượng và coi nguồn tài nguyên này là thiết yếu cho sự phát triển quốc gia. Phía hạ nguồn, các quốc gia Kazakhstan, Uzbekistan và Turkmenistan cũng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước để sản xuất.
Chính sự phụ thuộc này đã trao cho nguồn nước giá trị địa chính trị cao. Việc kiểm soát nguồn nước có thể trở thành công cụ đàm phán và đòn bẩy kinh tế, song đôi khi điều này cũng mang lại rủi ro an ninh. Đơn cử, tranh chấp biên giới giữa Kyrgyzstan và Tajikistan, mà một phần liên quan sử dụng nguồn nước chung, đã bùng phát trở lại vào năm 2021, sau đó leo thang thành các cuộc xung đột quân sự khiến nhiều người thiệt mạng.
Nhận thức rõ về việc tranh chấp liên quan nguồn nước có thể gây ra những bất ổn khu vực và biến thành thách thức an ninh nghiêm trọng, các quốc Trung Á thời gian qua đã nỗ lực tìm tiếng nói chung. Cách tiếp cận theo đó cũng thay đổi, từ cạnh tranh sang đối thoại, ngoại giao và hợp tác. Vấn đề nước trong khu vực được định nghĩa lại, đi cùng trách nhiệm về môi trường, địa chính trị, kinh tế và xã hội.
Đặc biệt, năm 2025 được xem là “bước ngoặt lớn” với các nước Trung Á trong vấn đề nguồn nước, khi cách tiếp cận từ cạnh tranh sang hợp tác được hiện thực hóa một cách cụ thể. Thỏa thuận phân định biên giới ba bên được ký giữa Tajikistan, Kyrgyzstan và Uzbekistan, với “Tuyên bố hữu nghị vĩnh cửu” thể hiện sự đồng thuận về nhận thức, không chỉ về tranh chấp biên giới, mà còn cả các vấn đề cơ bản như chia sẻ tài nguyên nước, tiếp cận cơ sở hạ tầng thủy điện và quản lý cân bằng năng lượng và nguồn nước.
Tuy nhiên, việc thiếu thống nhất giữa các ưu tiên chiến lược quốc gia, năng lực quản lý không theo kịp yêu cầu thực tế, cùng các vấn đề về chia sẻ dữ liệu, đang đặt ra cho Trung Á không ít thách thức về nguồn nước. Theo giới quan sát, để khắc phục, khu vực vẫn cần cách tiếp cận toàn diện hơn. Ngoại giao nguồn nước cần lồng ghép với chuyên môn kỹ thuật. Ngoài ra, bên cạnh mở rộng chức năng của các tổ chức quản lý nước khu vực, việc hài hòa các chính sách về nguồn nước ở Trung Á với các cơ chế ngoài khu vực có thể tạo thuận lợi cho việc hội nhập sâu hơn vào các chuẩn mực quốc tế.
Theo: https://nhandan.vn/
|
|
20 giờ 30 phút tối nay (29/7) xả lũ hồ chứa thủy điện Cẩm Thủy 1 để đảm bảo duy trì mực nước hồ ở dưới mực nước chết là 25.5m.
Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng và Giao thông (Intracom) thông báo thời gian xả lũ dự kiến: Từ 20 giờ 30 phút, ngày 29/7, thời gian kết thúc xả dự kiến từ 17 giờ, ngày 06/8.

Xả lũ hồ chứa thủy điện Cẩm Thủy 1 để đảm bảo duy trì mực nước hồ ở dưới mực nước chết là 25.5m. Ảnh: Intracom.
Lưu lượng xả dự kiến từ 1.300 m3/s đến 2.500 m3/s (tùy theo lưu lượng nước đến hồ) và đảm bảo duy trì mực nước hồ ở mực nước chết là 25.5 m (Mực nước dâng bình thường 25.5m).
Tổng lưu lượng về hạ du dự kiến: Q = Q nhà máy + Q xả tràn = 1.300 m3/s đến 2.500 m3⁄s. Mực nước hạ lưu chênh lệch từ cao trình 19m đến 25m.
Nhà máy thủy điện Cẩm Thủy 1 sẽ thực hiện việc xả lũ theo điều 11 bằng hiệu lệnh 3 hồi còi, mỗi hồi còi kéo dài 20 giây và cách nhau 10 giây trước 30 phút khi tích hoặc xả nước.
Intracom đề nghị UBND các xã Thiệu Hóa, Thiệu Trung, Thiệu Toán, Thiệu Tiến, Thiệu Quang, Yên Định, Yên Trường, Yên Phú, Quý Lộc, Yên Ninh, Định Tân, Định Hòa, Vĩnh Lộc, Tây Đô, Biện Thượng, Cẩm Thạch, Cẩm Thủy, Cẩm Tú, Cẩm Tân, Cẩm Vân thông báo khẩn cho nhân dân và các thôn nằm dọc bờ Sông Mã có kế hoạch chủ động bảo vệ con người, tài sản, cây cối hoa màu, vật nuôi, thủy hải sản, nhà cửa, kiến trúc.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Một hệ thống cảnh báo ngập lụt theo thời gian thực có thể khoanh vùng dự báo phạm vi, mức độ và thời gian xảy ra ngập úng, cùng những nguy cơ rủi ro.
Thu thập dữ liệu quan trắc và hình thành bản đồ ngập
Ngập lụt đô thị là thách thức rất lớn trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và xảy ra thường xuyên vào mỗi mùa mưa. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các đô thị sẽ phải dần quen với tình trạng ngập lụt xảy ra thường xuyên hơn, nhưng có thể giảm thiểu thiệt hại bằng cách chủ động ứng phó khi có cảnh báo mưa lớn, và đầu tư cải tạo, xây dựng mới hệ thống thoát nước tốt hơn.
Theo ông Hoàng Văn Đại, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia (Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ngập lụt nói chung có nhiều nguyên nhân do mưa lớn, lũ hạ lưu sông, xả lũ hồ chứa, triều cường hoặc cũng có thể là tổ hợp các yếu tố trên. Đến nay, hệ thống dự báo khí tượng thủy văn (KTTV) quốc gia đã xây dựng bản đồ ngập lụt cho các lưu vực sông chính tại Việt Nam. Một số Đài KTTV tỉnh, thành phố cũng đã chủ động xây dựng bản đồ ngập do lũ sông, triều cường cho địa bàn dự báo với những kịch bản cụ thể, chủ yếu tại khu vực miền Trung do đây là trọng điểm ngập của cả nước.
Tần suất ngập lụt do mưa cực đoan đang gia tăng trong những năm gần đây. Ảnh: Báo Thanh niên
Tần suất ngập lụt do mưa cực đoan đang gia tăng trong những năm gần đây. Ảnh: Báo Thanh niên
Riêng ngập lụt đô thị, việc xây dựng các kịch bản ngập lụt bám sát thực tiễn rất phức tạp, đòi hỏi 2 yếu tố quan trọng nhất là quan trắc mưa theo thời gian thực và bản đồ ngập lụt.
Về quan trắc, thách thức hiện nay là hệ thống dự báo quốc gia chưa thể đáp ứng mật độ đặt trạm theo nhu cầu thực tế, vì mưa có thể xuất hiện bất kì thời gian, địa điểm nào. Dữ liệu đưa vào mô hình tính toán cũng cần được đồng bộ, từ mạng lưới quan trắc quốc gia đến dữ liệu quan trắc chuyên dùng của địa phương, kết hợp radar thời tiết mới có thể dự báo mưa thời đoạn cực ngắn (trước 1 tiếng – 30 phút).
Minh hoạ cảnh báo ngập chi tiết khu vực nội thành Hà Nội từ hệ thống Flood4Cast ngày 9/9/2024. Ảnh: TTDBKTTVQG.
Minh hoạ cảnh báo ngập chi tiết khu vực nội thành Hà Nội từ hệ thống Flood4Cast ngày 9/9/2024. Ảnh: TTDBKTTVQG.
Bản đồ ngập phải được mô hình, mô phỏng dựa trên dữ liệu địa hình chi tiết của đô thị, khu dân cư tập trung với đầy đủ thông tin về hệ thống thoát nước. Sau đó là quá trình xây dựng các kịch bản ngập với các tham số khác nhau về lượng mưa, năng lực hệ thống thoát nước, mực nước sông. Dữ liệu sẽ được xử lý để đưa ra thông tin cảnh báo kịp thời, bám sát diễn biến mưa ngập theo thời gian thực. Những vấn đề này rất cần chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn khác cùng vào cuộc, hợp tác chặt chẽ với cơ quan dự báo.
Về mặt kỹ thuật, hệ thống dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn quốc gia đang cung cấp các dịch vụ khí hậu để hỗ trợ dự báo, cảnh báo nói chung và cảnh báo ngập nói riêng trên phạm vi toàn quốc theo nhu cầu của người dùng.
Dữ liệu “sống” giúp cảnh báo sớm đi trước một bước
Thời gian qua, Trung tâm Dự báo KTTV quốc gia đã thử nghiệm cảnh báo ngập cho nội thành Hà Nội mỗi khi có mưa lớn với sự hỗ trợ từ Vương quốc Bỉ. Công nghệ Flood4Cast được áp dụng có khả năng kết hợp dữ liệu quan trắc mưa theo thời gian thực, cảnh báo rủi ro ngập và độ sâu ngập trong vài giờ tới.
Trung tâm đang trong quá trình thử nghiệm hệ thống để cảnh báo chi tiết cho các tuyến giao thông có nguy cơ ngập, khoanh vùng dự báo phạm vi, mức độ và thời gian có thể xảy ra ngập úng. Đồng thời, nghiên cứu hướng mở rộng phạm vi cảnh báo, tích hợp vào các ứng dụng di động để người dân có thể tiếp cận dễ dàng hơn.
Không dừng lại ở cảnh báo ngập lụt có tính thời điểm, một dự án mới vừa được khởi động nhằm thiết lập nền tảng quản lý rủi ro về tác động của mưa cực đoan trên lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn (thành phố Đà Nẵng), với trung tâm vẫn là công nghệ Flood4Cast.
Dự án do các công ty từ Vương quốc Bỉ phối hợp cùng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (Bộ NN-MT) và chính quyền TP Đà Nẵng triển khai. Từ nay đến cuối năm 2025 là thời gian xây dựng cơ sở dữ liệu phong phú gồm: Các trận ngập lịch sử trong 10 năm gần đây do bão, lũ sông, mưa lớn; dữ liệu mưa từ radar và trạm quan trắc mặt đất; dữ liệu thủy văn về lưu lượng, mực nước sông, mực nước biển; dữ liệu GIS về địa hình, mạng lưới sông ngòi, hệ thống thoát nước, nhà cửa, công trình; thiệt hại ngập lụt... Đây không chỉ là "nguyên liệu đầu vào" cho mô hình dự báo mà còn được sử dụng để kiểm chứng, hiệu chỉnh và cập nhật hệ thống theo thời gian thực.
Bản đồ ngập hình thành trên cơ sở ảnh chụp viễn thám ngập thực tế kết hợp với mô hình mô phỏng tình trạng ngập úng đô thị và lũ sông. Sau khi có bản đồ ngập đầu tiên, năm 2026, dự án sẽ tiếp tục mở rộng mô hình cảnh báo, xây dựng bản đồ ngập theo kịch bản khí hậu, mô hình thiệt hại kinh tế.
Khi có tình huống mưa cực đoan, Flood4Cast sẽ đề xuất bản đồ ngập tổng thể có khả năng xảy ra nhất cho thời điểm đó, dựa trên cơ sở dữ liệu bản đồ ngập phù hợp với tần suất lượng mưa trung bình theo thời gian thực đã được tính toán từ trước. Ảnh: Hydrocsan.
Khi có tình huống mưa cực đoan, Flood4Cast sẽ đề xuất bản đồ ngập tổng thể có khả năng xảy ra nhất cho thời điểm đó, dựa trên cơ sở dữ liệu bản đồ ngập phù hợp với tần suất lượng mưa trung bình theo thời gian thực đã được tính toán từ trước. Ảnh: Hydrocsan.
Dự kiến tới năm 2027, bản đồ rủi ro kinh tế do mưa cực đoan sẽ được hoàn thiện. Đây là cơ sở xác định các kịch bản mô phỏng tình huống ngập lụt giả định tương ứng với các mức độ mưa lớn, tình trạng quá tải hệ thống thoát nước, hay sự dâng cao bất thường của mực nước sông, triều cường. Qua đó, chuyển đổi thông tin dự báo thành các quyết định ứng phó cụ thể, đúng lúc và hiệu quả. Cơ quan chức năng có thể chủ động lập phương án sơ tán dân cư ở khu vực có nguy cơ ngập sâu, bảo vệ cơ sở hạ tầng và cảnh báo sớm cho người dân, doanh nghiệp để giảm thiểu thiệt hại tài sản, giảm thời gian gián đoạn hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Nhìn từ công tác quy hoạch xây dựng đô thị, PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý hạ tầng (Bộ Xây dựng) cho rằng, bản đồ dự báo ngập phải dự báo được khu vực ngập úng trong trung và dài hạn nhằm phục vụ quy hoạch lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giao thông, thoát nước để thích ứng với xu thế khí hậu thay đổi. Để làm được điều này, cần dựa vào kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng, kết hợp chuỗi dữ liệu quan trắc lịch sử trong 5-10 năm hoặc lâu hơn.
Vấn đề hiện nay, theo các chuyên gia, dữ liệu đầu vào cũng như dữ liệu quy hoạch cần được khai thác từ địa phương để tăng độ chính xác, chi tiết và giúp nâng cao chất lượng bản đồ ngập và kịch bản ứng phó ngập. Việc chủ động cung cấp thông tin, cũng như tích hợp kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng đô thị sẽ giúp địa phương nhìn nhận đầy đủ hơn các rủi ro.
Một cách tiếp cận toàn diện từ dự báo sớm, quản lý rủi ro đến quy hoạch đồng bộ sẽ tạo nền tảng cho đô thị Việt Nam đứng vững trước những thách thức của thời tiết cực đoan trong tương lai.
https://cms.nongnghiepmoitruong.vn/lib/explus/quote.png") 0% 0% / 13px no-repeat;">Việc xây dựng nền tảng quản lý rủi ro về tác động của mưa cực đoan không dừng lại ở phạm vi kỹ thuật, mà được kỳ vọng sẽ tác động lâu dài đến việc thay đổi phương pháp quản lý rủi ro, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai tại Việt Nam. Mô hình có thể nhân rộng ra các lưu vực khác, đặc biệt tại những đô thị và vùng trũng ven biển đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt ngày càng gia tăng.
Ông Nguyễn Trường Sơn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|