|
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 243/QĐ-BNNMT công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026, làm cơ sở điều hòa, phân phối và quản lý tài nguyên nước trên toàn lưu vực. Kịch bản nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng
Việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026 nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.
Đồng thời, Kịch bản là căn cứ để các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước; các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp theo quy định tại các khoản 1, 5, 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43, các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.
Kịch bản được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố được tính toán, đánh giá cho mùa cạn năm 2026, từ tháng 01 đến hết tháng 7/2026, áp dụng trên toàn bộ các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Srêpốk.
Nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ
Theo Kịch bản được công bố, trong mùa cạn năm 2026, trên toàn lưu vực sông Srêpốk hiện có 188 công trình cấp nước tập trung, trong đó gồm 51 công trình khai thác nước mặt và 137 công trình khai thác nước dưới đất. Tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh – dịch vụ ước đạt khoảng 10,7 triệu m³ trong toàn kỳ mùa cạn.
Tỷ lệ khai thác từ nước dưới đất chiếm khoảng 76%, trong khi khai thác từ nước mặt chiếm 24%, phản ánh mức độ phụ thuộc tương đối lớn của nhiều khu vực trên lưu vực vào nguồn nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng cao, vùng chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống cấp nước tập trung.
Bên cạnh các công trình tập trung, trên lưu vực còn tồn tại nhiều công trình cấp nước tự chảy, giếng khoan hộ gia đình và các điểm khai thác nhỏ lẻ, phân tán, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ. Hệ thống này góp phần đa dạng hóa nguồn cung, song cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát để hạn chế nguy cơ suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước, nhất là đối với các tầng chứa nước dưới đất.
Nông nghiệp tiếp tục là ngành sử dụng nước lớn nhất
Kịch bản xác định, nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất trên lưu vực sông Srêpốk, với tổng nhu cầu nước trong mùa cạn năm 2026 ước đạt khoảng 1.419 triệu m³.
Trong tổng nhu cầu này, hệ thống các công trình thủy lợi hiện có cung cấp khoảng 485 triệu m³, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới cho lúa, 41% cho cây hàng năm khác và 17% cho cây lâu năm. Phần diện tích còn lại, đặc biệt là các vùng trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước mưa, các công trình khai thác nước dưới đất và các công trình nước mặt nhỏ lẻ.
Thực tế này cho thấy sản xuất nông nghiệp trên lưu vực vẫn chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết, khả năng tích trữ và điều tiết nước của hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi, nhất là trong điều kiện mùa khô kéo dài và lượng mưa phân bố không đều.
Nhu cầu nước cho phát điện và vai trò của các hồ chứa lớn
Trên lưu vực sông Srêpốk hiện có nhiều công trình thủy điện quan trọng, vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.
Theo Kịch bản, trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 7/2026, sản lượng điện dự kiến của các nhà máy thủy điện thuộc quy trình liên hồ đạt khoảng 1,22 triệu kWh, thấp hơn khoảng 31% so với năm 2025 và thấp hơn khoảng 19% so với mức trung bình nhiều năm. Tương ứng, nhu cầu nước phục vụ phát điện ước đạt khoảng 16,1 tỷ m³, giảm 14,4% so với năm 2025 và giảm 3,5% so với trung bình thời kỳ.
Riêng hồ Buôn Tua Srah, trong mùa cạn năm 2026, sản lượng điện dự kiến đạt khoảng 145,3 triệu kWh, với nhu cầu nước khoảng 1,3 tỷ m³, giảm 13,3% so với năm 2025 và giảm 7,9% so với trung bình nhiều năm.
Các số liệu trên cho thấy áp lực phát điện trong mùa cạn năm 2026 có xu hướng giảm so với những năm trước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác điều tiết, phân phối nước phục vụ các mục tiêu cấp nước cho hạ du, sản xuất nông nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường.
Trạng thái nguồn nước: Cơ bản ở “trạng thái bình thường”
Trên cơ sở tổng hợp các thông tin về hiện trạng nguồn nước, dự báo khí tượng – thủy văn, diễn biến dòng chảy đến các hồ chứa lớn, tình hình nguồn nước mặt và nước dưới đất tại các tiểu vùng, Kịch bản nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Srêpốk trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”.
Đối với bốn hồ chứa lớn gồm Buôn Tua Srah, Krông Búk Hạ, Srêpốk 3 và Srêpốk 4, dự báo cho thấy tổng lượng nước đến hồ trong mùa cạn năm 2026 có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước cho phát điện, tưới tiêu nông nghiệp tại địa phương và duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ.
Cụ thể, tại hồ Buôn Tua Srah và Krông Búk Hạ, trong cả hai kịch bản vận hành (sản lượng phát điện thấp hơn năm 2025 hoặc tương đương trung bình nhiều năm), nhu cầu nước cho phát điện và tưới tiêu đều được đánh giá là phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước đến hồ.
Đối với hồ Srêpốk 3 và Srêpốk 4, sản lượng điện và nhu cầu nước cho phát điện dự kiến thấp hơn trung bình nhiều năm, trong khi dòng chảy đến hồ có xu hướng cao hơn khoảng 10–15%, tạo dư địa nhất định cho việc điều tiết nước phục vụ hạ du.
Nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số tiểu vùng
Mặc dù tổng thể nguồn nước được đánh giá ở trạng thái bình thường, Kịch bản cũng chỉ rõ, do đặc điểm địa hình dốc, mạng lưới sông suối nhỏ, khả năng trữ nước hạn chế, cùng với đặc trưng mùa khô kéo dài, lượng mưa thấp và bốc hơi lớn, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số khu vực, đặc biệt là các vùng ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa, các khu vực có công trình thủy lợi quy mô nhỏ, chưa được đầu tư đồng bộ.
Tiểu vùng Ia Đrăng và Ia Lốp: Có khoảng 15 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 216,9 triệu m³. Đến đầu tháng 01/2026, phần lớn các hồ đã tích gần đầy và cơ bản đáp ứng nhu cầu trong phạm vi cấp nước. Tuy nhiên, hồ Ia Ring gặp sự cố thấm thân đập từ cuối năm 2024, chỉ tích được khoảng 57% dung tích, tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước tưới tại một số xã thuộc tỉnh Gia Lai.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Ea Hleo: Khoảng 97 hồ chứa, tổng dung tích hơn 223 triệu m³, nguồn nước trong phạm vi cấp nước của các hồ được đánh giá là bảo đảm. Tuy nhiên, các khu vực ngoài hệ thống vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ, đặc biệt trong các tháng cao điểm nắng nóng.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Ana: Hệ thống 365 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 140 triệu m³ cơ bản đáp ứng nhu cầu, song các khu vực phụ thuộc nhiều vào nước mưa và công trình nhỏ lẻ vẫn có khả năng xảy ra thiếu nước trong mùa khô.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Nô: Khoảng 110 hồ chứa với tổng dung tích hơn 74 triệu m³ cơ bản đủ khả năng cấp nước trong phạm vi, nhưng các xã vùng cao, vùng xa trung tâm vẫn tiềm ẩn rủi ro thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Srêpốk: Hệ thống gần 200 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 174 triệu m³ nhìn chung bảo đảm nguồn nước, song một số khu vực đô thị và nông thôn vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ do nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi.
Định hướng giải pháp và phân công nhiệm vụ
Về tổng thể, nguồn nước trên các tiểu vùng và các tầng chứa nước cơ bản ở trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai thác bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các tháng cao điểm nắng nóng (từ tháng 3 đến tháng 5), nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể gia tăng nếu việc khai thác, sử dụng không hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước trong mùa cạn năm 2026, đặc biệt trong các tháng dự báo xảy ra nắng nóng diện rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực sông Srêpốk chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.
Bộ Công Thương được giao chỉ đạo việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch vận hành các hồ chứa thủy điện phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm ưu tiên cấp nước cho hạ du đến cuối mùa cạn, đồng thời cân đối hài hòa giữa mục tiêu phát điện và cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất.
Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục rà soát, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, mở rộng phạm vi cấp nước, cải thiện năng lực tích trữ và điều tiết nước, đồng thời tăng cường giám sát việc khai thác nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng trồng cây công nghiệp.
Kịch bản cũng khuyến nghị phát triển các mô hình tích trữ nước mưa, ao hồ nhỏ, công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực thường xuyên hạn hán nhằm giảm áp lực lên nguồn nước.
Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật KBNN trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai KBNN đã công bố.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hoà, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.
Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.
Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với KBNN; Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ cho các địa phương trên các LVS, nhất là các vùng, khu vực được cảnh báo có nguy cơ thiếu nước.
Cục Khí tượng thủy văn theo dõi, cập nhật bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; tăng cường dự báo, cảnh báo cho các khu vực, vùng có nguy cơ xảy ra thiếu nước đã được nhận định trong KBNN.
Văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để cung cấp, thông báo kịp thời các thông tin về vận hành, xả nước của hồ Srêpôk 4 cho phía Campuchia theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.
Tăng cường bảo vệ và phục hồi nước dưới đất
Đvới công tác bảo vệ nước dưới đất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, phê duyệt và triển khai kế hoạch bảo vệ theo quy định pháp luật; cập nhật danh mục các vùng hạn chế khai thác; khoanh định, đánh giá các khu vực có tiềm năng bổ cập nhân tạo; nghiên cứu, áp dụng các mô hình bổ sung nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước, nhất là tại các khu vực phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất.
Việc khai thác nước dưới đất cần được giám sát chặt chẽ, hạn chế tình trạng khai thác quá mức, sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ không bảo đảm kỹ thuật, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước.
File đính kèm:
Nguồn: DWRM
|
|
Trước biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan gia tăng, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước là trụ cột bảo đảm an ninh nguồn nước và an sinh xã hội .
Nghệ An mở đợt cao điểm bảo vệ an ninh nguồn nước
Chuyển từ ‘xử lý sự cố’ sang ‘quản trị chủ động’ vì an ninh nguồn nước
Giữ an ninh nguồn nước - Nhiệm vụ sống còn vì phát triển bền vững
Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam về vai trò, định hướng và những giải pháp trọng tâm của lĩnh vực thủy lợi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
TS Đào Xuân Học trao đổi về vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới. Ảnh: Hà Trang
TS Đào Xuân Học trao đổi về vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới. Ảnh: Hà Trang
Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, thiên tai diễn biến bất thường, theo ông, năng lực ứng phó của ngành nông nghiệp và môi trường, đặc biệt là lĩnh vực thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, đã có những chuyển biến nổi bật nào? Những chuyển biến đó có ý nghĩa ra sao đối với ổn định kinh tế - xã hội và đời sống người dân?
- Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã làm cho thời tiết chuyển sang trạng thái cực đoan rõ rệt, với nhiều hiện tượng vượt ngưỡng lịch sử: mưa lớn bất thường, lũ lên nhanh và cao hơn trước, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn sâu, thiếu nước cục bộ ở nhiều vùng. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn tính mạng, tài sản của người dân.
Thiệt hại do thiên tai những năm vừa qua là rất lớn, điều đó cần nhìn thẳng và đánh giá đúng. Tuy nhiên, nếu so với các giai đoạn trước, có thể thấy rõ năng lực ứng phó của chúng ta đã được nâng lên đáng kể. Thực tế đã có những đợt lũ với mực nước cao hơn lịch sử, nước tràn qua đê nhưng đê vẫn giữ được an toàn, không bị vỡ. Đây không phải là may mắn ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình đầu tư bền bỉ của Nhà nước cho hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, cũng như công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên.
Quan trọng hơn, đó là sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường. Khi thiên tai ngày càng “khốc liệt” hơn, chỉ cần một khâu lỏng lẻo cũng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc hệ thống vẫn đứng vững cho thấy năng lực tổ chức, điều hành và con người đã có bước tiến rõ rệt, góp phần giữ vững ổn định kinh tế - xã hội, giảm thiểu tổn thất và bảo vệ đời sống nhân dân.
Một điểm đáng trân trọng nữa là truyền thống khắc phục hậu quả thiên tai rất nhanh của Việt Nam. Ở bất kỳ giai đoạn nào, sau thiên tai, với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của Nhà nước, chính quyền các cấp và tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng, nhiều địa phương đã nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống. Tuy nhiên, phòng tránh thiên tai không thể chỉ mạnh ở khâu “sau thiên tai”. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó chủ động ngay từ trước và trong quá trình thiên tai xảy ra.
Hướng tới Đại hội XIV của Đảng, mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người được đặt lên hàng đầu. Theo ông, vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước cần được nhìn nhận như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước?
- Nếu nhìn lại lịch sử phát triển của dân tộc, có thể thấy đê điều và thủy lợi luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Từ thời dựng nước đến nay, chưa có giai đoạn nào chúng ta không bàn đến chuyện làm đê, trị thủy. Nước gắn trực tiếp với sản xuất, với an sinh xã hội và sự ổn định của quốc gia. Khi đê điều vững chắc, sản xuất thuận lợi; ngược lại, vỡ đê, mất nước hay lũ lớn đều kéo theo những tổn thất rất nặng nề.
Trong bối cảnh hiện nay, khi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan trở thành “trạng thái bình thường mới”, vai trò đó càng trở nên nổi bật. Phần lớn các loại thiên tai ở Việt Nam đều liên quan đến nước, từ lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đến sạt lở. Vì vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước phải được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới, đặc biệt là bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và sinh kế bền vững cho người dân.
Việc Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất quản lý nhà nước về nước là một bước đột phá rất quan trọng, tạo tiền đề cho điều hành đồng bộ, tránh phân tán. Tuy nhiên, đây mới chỉ là khởi đầu. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, phương thức quản lý theo hướng tiếp cận tổng thể lưu vực, từ thượng nguồn đến hạ du, từ lòng sông đến hệ thống đê điều, hồ chứa. Có như vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước mới thực sự phát huy vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Vậy theo ông, yếu tố nào mang tính quyết định để thủy lợi và quản lý tài nguyên nước thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới?
- Theo tôi, xét ở tầm quốc gia nói chung và đối với lĩnh vực thủy lợi, quản lý nước nói riêng, có ba yếu tố mang tính quyết định.
Thứ nhất là thể chế và tổ chức bộ máy. Đây là yếu tố then chốt trong giai đoạn hiện nay. Việc quản lý nước đã được đưa về một mối là rất đúng đắn, nhưng nếu trong thực thi vẫn tồn tại tư duy cục bộ, chia cắt giữa các lĩnh vực, thì hiệu quả sẽ không cao. Hiện nay, trong công tác quy hoạch thủy lợi, tình trạng nhiều đơn vị cùng quản lý một con sông nhưng vận hành song hành theo hai “đường ray” khác nhau không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong công tác quản trị. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý.
Thứ hai là nguồn nhân lực. Công trình dù hiện đại đến đâu cũng cần con người vận hành, kiểm tra, duy tu. Đội ngũ làm công tác thủy lợi, quản lý nước và phòng chống thiên tai phải có trình độ chuyên môn vững, kỹ năng thực hành tốt và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao. Trong bối cảnh yêu cầu nhiệm vụ ngày càng lớn, việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là yêu cầu không thể trì hoãn.
Thứ ba là hạ tầng kỹ thuật. Nhiều hồ chứa, đập đất, hệ thống đê điều của chúng ta được xây dựng từ vài chục năm trước, trong khi điều kiện mưa lũ hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Do đó, cần tổng rà soát, đánh giá lại mức độ an toàn, khả năng thoát lũ, nhất là ở các vùng hạ du đang chịu áp lực lớn từ đô thị hóa và phát triển hạ tầng.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, đầu tư hạ tầng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng thể chế thông suốt và con người đủ năng lực. Khi ba yếu tố này được kết hợp hài hòa, chúng ta mới có thể triển khai thành công một chiến lược tổng thể về thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra, bảo đảm an ninh nguồn nước, an sinh xã hội và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Thanh Hóa Trước tác động của biến đổi khí hậu, việc bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước đang được tỉnh Thanh Hóa xác định là nhiệm vụ quan trọng, mang tính lâu dài.
Thanh Hóa cấp phép khai thác nước mặt cung cấp cho người dân vùng ven biển
Thanh Hóa xả lũ thủy điện Cẩm Thủy 1
Thanh Hóa hỗ trợ đấu nối nước sạch cho hơn 2.100 hộ gia đình
Nhờ hệ thống sông ngòi phân bố dày đặc với nhiều con sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Bưởi, sông Yên…, tỉnh Thanh Hóa sở hữu nguồn nước mặt tương đối dồi dào. Cùng với đó, tài nguyên nước dưới đất cũng phong phú, đa dạng về trữ lượng và chất lượng, góp phần quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và quá trình khai thác, sử dụng ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên quý giá này đang đứng trước nhiều thách thức về cả số lượng lẫn chất lượng.
Siết chặt quản lý Nhà nước về tài nguyên nước
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Thanh Hóa, Sở thường xuyên chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Trọng tâm là đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TNN đến các tổ chức, cá nhân, người dân, qua đó nâng cao ý thức chấp hành các quy định trong khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước.

Song song với công tác tuyên truyền, Sở NN&MT tập trung thực hiện quy hoạch TNN; triển khai các chương trình điều tra cơ bản về tài nguyên nước; xây dựng và thực hiện các đề án, dự án phục vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực TNN trên địa bàn tỉnh. Công tác rà soát, lập danh sách các tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất thuộc diện phải nộp tiền cấp quyền khai thác TNN cũng được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.
Hằng năm, các đơn vị chức năng của Sở NN&MT đều tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về TNN. Nội dung kiểm tra tập trung vào hoạt động khai thác, sử dụng nước; xả nước thải vào nguồn tiếp nhận; công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra. Kết quả kiểm tra trong năm 2025 cho thấy, trên địa bàn tỉnh không phát sinh các vụ việc phức tạp, nổi cộm trong lĩnh vực TNN. Phần lớn các tổ chức, đơn vị đã chấp hành tốt các quy định pháp luật, khai thác và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; chú trọng đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.
Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả sử dụng nước
Cùng với công tác quản lý, giám sát, tỉnh ta đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ hành lang nguồn nước. Từ năm 2019 đến nay, các cơ quan chức năng tỉnh Thanh Hóa đã cắm hơn 1.600 mốc hành lang bảo vệ nguồn nước tại 66 đoạn sông, suối trên toàn tỉnh. Việc cắm mốc không chỉ góp phần ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất đai, xây dựng công trình trái phép mà còn bảo đảm sự ổn định bờ sông, phòng ngừa các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước; đồng thời bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh và cảnh quan môi trường ven sông, suối.

Trước tác động ngày càng rõ rệt của BĐKH, nhất là tình trạng xâm nhập mặn trong mùa khô, Sở NN&MT đã chỉ đạo các đơn vị chức năng triển khai điều tra, quan trắc triều - mặn trên các hệ thống sông lớn như sông Mã, sông Yên, sông Bạng. Trong năm 2025, Chi cục Thủy lợi đã tổ chức hai đợt quan trắc tại nhiều trạm trọng điểm, cung cấp chuỗi số liệu quan trọng phục vụ công tác dự báo, điều hành sản xuất và sinh hoạt. Trên cơ sở kết quả quan trắc, ngành chức năng khuyến cáo các địa phương nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, xâm nhập mặn cần chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, sử dụng nước tiết kiệm và hợp lý.
Bên cạnh đó, tỉnh và các ngành liên quan cũng triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng chắn sóng, chắn cát ven biển để giảm thiểu tác động của BĐKH đến TNN, hạn chế nguy cơ cạn kiệt và suy thoái nguồn nước. Nhiều mô hình sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả đã và đang được xây dựng, nhân rộng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.
Những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa đã đầu tư, nâng cấp hàng chục hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, cống, âu; đồng thời xây dựng, tu bổ nhiều công trình đê điều nhằm tăng khả năng trữ nước và bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt trong điều kiện hạn hán gia tăng do BĐKH.
Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước là nhiệm vụ không chỉ của riêng ngành chức năng mà đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu đan xen, mỗi tổ chức, cá nhân cần nâng cao trách nhiệm, chung tay gìn giữ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này vì mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Nghị định 346/NĐ-CP siết chặt quy định phí nước thải dựa trên mức độ ô nhiễm, minh bạch trách nhiệm thu - chi nhằm tạo nguồn lực bền vững cho hạ tầng môi trường.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy địnhphí bảo vệ môi trườngđối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP. Việc ban hành Nghị định mới không chỉ điều chỉnh mức thu, đối tượng và phương thức quản lý phí, mà còn thể hiện rõ định hướng đổi mới chính sách môi trường theo hướng tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm, phù hợp hơn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.
Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Theo Nghị định 346/NĐ-CP, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tiếp tục được áp dụng đối với hai nhóm chính là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.
Đối với nước thải sinh hoạt, mức phí được xác định tương đương 10% giá bán 1 m³ nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trên cơ sở khung chung này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức phí cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo vệ môi trường và năng lực hạ tầng thoát nước,xử lý nước thảicủa từng địa phương.
Đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định nguyên tắc xác định phí gắn với lưu lượng và tính chất nước thải, qua đó tạo áp lực kinh tế trực tiếp buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải tăng cường kiểm soát ô nhiễm, đầu tư hệ thống xử lý đạt quy chuẩn. Cách tiếp cận này phản ánh rõ quan điểm “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tái sử dụng nước, giảm phát sinh nước thải, hướng tới mô hình sản xuất xanh và phát thải thấp.
Xác định rõ đối tượng chịu phí và các trường hợp miễn phí
Bên cạnh việc điều chỉnh cách tính phí, Nghị định 346/NĐ-CP cũng làm rõ phạm vi các đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, nhằm khắc phục những bất cập, chồng chéo trong quá trình áp dụng trước đây. Theo đó, đối tượng chịu phí là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.
Đối với nước thải công nghiệp, đối tượng chịu phí bao gồm toàn bộ nước thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Quy định này bảo đảm bao quát đầy đủ các nguồn thải công nghiệp, hạn chế tình trạng “lọt lưới” trong quản lý, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác thu phí và kiểm soát ô nhiễm.
Nghị định xác định đối tượng chịu phí bao gồm nước thải sinh hoạt thông thường và nước thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Đối với nước thải sinh hoạt, Nghị định xác định đối tượng chịu phí bao gồm nước thải sinh hoạt thông thường và nước thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đáng chú ý, các cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m³/ngày, tương ứng 7.300 m³/năm, trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cung cấp nước sạch cũng thuộc diện chịu phí nước thải sinh hoạt. Quy định này góp phần mở rộng phạm vi điều tiết, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường nước ngay cả đối với các cơ sở có quy mô nhỏ.
Song song với việc xác định đối tượng chịu phí, Nghị định 346/NĐ-CP quy định cụ thể 10 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Các trường hợp này bao gồm nước xả ra từ nhà máy thủy điện không qua công đoạn có khả năng gâyô nhiễm; nước biển dùng vào sản xuất muối; nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khu vực chưa có hệ thống cung cấp nước sạch; nước trao đổi nhiệt; nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ phương tiện đánh bắt thủy sản; nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung đô thị; nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản; nước thải được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản.
Việc quy định rõ ràng, cụ thể các trường hợp miễn phí không chỉ tránh thu phí tràn lan mà còn bảo đảm tính nhân văn, công bằng của chính sách. Đây là yếu tố quan trọng để chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhận được sự đồng thuận cao từ người dân và doanh nghiệp trong quá trình triển khai.
Minh bạch thu - quản lý phí, tạo nguồn lực cho hạ tầng môi trường
Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định 346/NĐ-CP là việc làm rõ trách nhiệm của các tổ chức thu, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thực thi chính sách. Đối với nước thải sinh hoạt, phí được thu thông qua tổ chức cung cấp nước sạch. Cách thức này giúp giảm chi phí hành chính, thuận tiện cho người dân, đồng thời hạn chế thất thoát trong quá trình thu nộp.
Theo Nghị định, tổ chức cung cấp nước sạch được để lại 10% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí. Trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ để lại phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhưng tối đa không quá 10%. Số tiền phí được để lại được xác định là doanh thu của tổ chức cung cấp nước sạch và phải thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Quy định này vừa bảo đảm nguồn kinh phí cho công tác thu phí, vừa tăng cường trách nhiệm và tính minh bạch của các đơn vị liên quan.
Đối với nước thải công nghiệp, trách nhiệm thu phí được giao cho cơ quan quản lý nhà nước hoặc đơn vị được ủy quyền, gắn với hệ thống quản lý môi trường hiện hành. Việc phân định rõ trách nhiệm thu và quản lý phí góp phần bảo đảm sự thống nhất trongkiểm soát nguồn thải, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm.
Nguồn thu từ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sẽ được sử dụng cho công tác duy tu, sửa chữa và đầu tư phát triển hạ tầng môi trường, đặc biệt là hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng để các địa phương từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, cải thiện chất lượng môi trường nước và nâng cao chất lượng sống của người dân
Nguồn: bonongnghiepvamoitruong
|
|
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành các quyết định thành lập 4 Ủy ban lưu vực sông khu vực: Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.
Theo các quyết định: Quyết định số 2756/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Bộ; Quyết định số 2758/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Trung Bộ; Quyết định số 2759/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ; Quyết định số 2760/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban lưu vực sông khu vực Đông Nam Bộ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường là Chủ tịch 4 Ủy ban trên.
Phó Chủ tịch Thường trực là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thứ trưởng Bộ Công Thương, Thứ trưởng Bộ Xây dựng làm Phó Chủ tịch.
Một đoạn lưu vực sông Hồng nhìn từ trên cao. Ảnh: Nguyễn Thủy.
Các quyết định nêu rõ, các Ủy ban nêu trên là tổ chức phối hợp liên ngành, giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối nguồn nước, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông, việc phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra và tham gia, phối hợp giải quyết các vấn đề có tính liên ngành, liên vùng, liên địa phương trên các lưu vực sông liên tỉnh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.
Cụ thể, Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng và các lưu vực sông ven biển Quảng Ninh.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Bắc Trung Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Mã, Cả, Hương và các lưu vực sông khác, gồm: sông Tống, sông Yên, sông Lạch Bạng, sông Gianh, sông Ô Lâu.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Nam Trung Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Kôn - Hà Thanh và các lưu vực sông khác gồm: sông Lại Giang, sông Kỳ Lộ, sông Cái Ninh Hòa, sông Cái Nha Trang, sông Cái Phan Rang.
Ủy ban lưu vực sông khu vực Đông Nam Bộ có nhiệm vụ thực hiện điều phối, giám sát hoạt động bảo vệ, điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Đồng Nai và các lưu vực sông khác gồm sông Dinh, sông Đu Đủ và sông Ray...
Nguồn: bonongnghiepvamoitruong
|
|