Tin trong nước

Gala kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường

 

Gala kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường tôn vinh hành trình phát triển xanh, bền vững và hướng tới nền kinh tế sinh thái, hạnh phúc.

Tối 11/11, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Gala Kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường. Dự Gala có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương và địa phương cùng đại diện các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, đối tác và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng (giữa) cùng nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực (bìa trái) và nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cắt bánh chúc ngành Nông nghiệp và Môi trường tròn 80 năm hình thành và phát triển. Ảnh: Tùng Đinh.Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng (giữa) cùng nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực (bìa trái) và nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cắt bánh chúc ngành Nông nghiệp và Môi trường tròn 80 năm hình thành và phát triển. Ảnh: Tùng Đinh.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng (giữa) cùng nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực (bìa trái) và nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cắt bánh chúc ngành Nông nghiệp và Môi trường tròn 80 năm hình thành và phát triển. Ảnh:Tùng Đinh.

Phát biểu tại Gala, Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh: “Hôm nay, chúng ta cùng có mặt trong niềm vui, niềm phấn khởi và tự hào sâu sắc nhân dịp kỷ niệm 80 năm hình thành và phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam. Đây không chỉ là hành trình của sản xuất và quản trị tài nguyên mà còn là hành trình của niềm tin, tinh thần trách nhiệm và khát vọng dựng xây một đất nước phát triển bền vững, hạnh phúc.Từ những ngày đầu kháng chiến chống đói năm 1945 đến nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số và phát triển xanh, ngành Nông nghiệp và Môi trường luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc, trở thành điểm tựa sinh kế của người dân và là lá chắn bảo vệ sự sống của đất nước".

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu tại đêm Gala. Ảnh: Tùng Đinh.Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu tại đêm Gala. Ảnh: Tùng Đinh.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng phát biểu tại đêm Gala. Ảnh:Tùng Đinh.

Dấu ấn 80 năm nỗ lực và khát vọng

Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, trong suốt 80 năm qua, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều in dấu nỗ lực, trí tuệ và cống hiến của hàng triệu con người, từ những nông dân cần cù, kỹ sư, nhà khoa học đến các thế hệ cán bộ ngành Nông nghiệp và Môi trường.Đây chính là lực lượng đã giữ màu xanh cho hậu phương, làm chủ nguồn tài nguyên quốc gia để hôm nay chúng ta có một nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn, số hóa, hiện đại và bền vững, một nền kinh tế đặt con người và thiên nhiên vào vị trí trung tâm của phát triển.Bộ trưởng Trần Đức Thắng thay mặt lãnh đạo Bộ nhiệt liệt chào mừng các đồng chí lãnh đạo, các vị đại biểu, khách quý và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành đã có mặt trong đêm Gala kỷ niệm 80 năm truyền thống vẻ vang.

Ông cho biết, trong suốt thời gian qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiều chỉ tiêu chiến lược quốc gia, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những kết quả ấy là mồ hôi, trí tuệ và khát vọng của bao thế hệ, là hành trình chuyển hóa tri thức thành sức mạnh quốc gia.

Bước ngoặt hướng tới phát triển tích hợp, thông minh

Một dấu mốc đáng chú ý được Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề cập là sự hợp nhất giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường từ ngày 1/3/2025, mở ra một giai đoạn phát triển mới.

Theo ông, đây không chỉ là sự sắp xếp về tổ chức mà còn là biểu tượng của trí tuệ, kinh nghiệm và khát vọng quốc gia nhằm chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng xanh, từ phát triển theo ngành sang phát triển tích hợp, thông minh, lấy con người làm trung tâm và hạnh phúc làm mục tiêu cao nhất.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cảm ơn các đối tác quốc tế đã luôn đồng hành trong hành trình phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng và Việt Nam nói chung. Ảnh: Tùng Đinh.Bộ trưởng Trần Đức Thắng cảm ơn các đối tác quốc tế đã luôn đồng hành trong hành trình phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng và Việt Nam nói chung. Ảnh: Tùng Đinh.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cảm ơn các đối tác quốc tế đã luôn đồng hành trong hành trình phát triển của ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng và Việt Nam nói chung. Ảnh:Tùng Đinh.

Nhìn lại 80 năm, Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định, bài học quý giá nhất mà ngành Nông nghiệp và Môi trường rút ra được là phát triển bền vững bắt đầu từ lòng đất và từ lòng người. Từ người cày có ruộng đến nhà quản lý, từ nông dân có tri thức đến người dân có dữ liệu và có quyền quyết định tương lai của mình, đó chính là bản sắc, tầm nhìn và sứ mệnh của ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam.

Thay mặt lãnh đạo Bộ, Bộ trưởng Trần Đức Thắng bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Đảng, Nhà nước đã luôn quan tâm, chỉ đạo, định hướng và động viên ngành trong mọi giai đoạn phát triển; các thế hệ đi trước - những người đã đặt nền móng vững chắc cho ngành; toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành - những người đang ngày đêm nỗ lực, sáng tạo, cống hiến cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế sinh thái và bảo vệ môi trường; các địa phương, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và đối tác phát triển đã luôn đồng hành, chia sẻ niềm tin và khát vọng cùng ngành trong suốt 80 năm qua.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiều chỉ tiêu chiến lược quốc gia, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ảnh: Tùng Đinh.Ngành Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiều chỉ tiêu chiến lược quốc gia, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ảnh: Tùng Đinh.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành xuất sắc nhiều chỉ tiêu chiến lược quốc gia, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ảnh:Tùng Đinh.

Hướng tới tương lai, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong tiến trình chuyển đổi xanh của đất nước với các mục tiêu: Phát triển công nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, công dân văn minh; bảo vệ, khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường quốc gia; góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững và hạnh phúc.

Kết thúc bài phát biểu, Bộ trưởng Trần Đức Thắng gửi lời chúc mừng Lễ Kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam thành công tốt đẹp, đồng thời chúc sức khỏe, bình an và hạnh phúc đến các đồng chí lãnh đạo, đại biểu, khách quý và toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành.

Nguồn: https://mae.gov.vn

 

Gala kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường

 

Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật quan trắc, cảnh báo và dự báo nguồn nước

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT quy định định mức kinh tế - kỹ thuật cho các hoạt động quan trắc tài nguyên nước, cảnh báo và dự báo nguồn nước.

Chuẩn hóa và số hóa toàn bộ quy trình kỹ thuật

Với việc ban hành Thông tư số 61/2025/TT-BNNMT, lần đầu tiên hoạt động quan trắc tài nguyên nước có bộ định mức thống nhất, trở thành căn cứ bắt buộc trong lập dự toán, đấu thầu, đặt hàng dịch vụ công và đánh giá hiệu quả đầu tư. Thông tư không chỉ làm rõ cơ sở xác định đơn giá và ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là công cụ kỹ thuật để các cơ quan quản lý, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ triển khai đồng bộ, minh bạch và hiệu quả các hoạt động quan trắc, cảnh báo và dự báo, góp phần trực tiếp đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia.

Thông tư 61/2025/TT-BNNMT phù hợp với định hướng quản trị tài nguyên nước chủ động theo Luật Tài nguyên nước 2023. Ảnh:Minh Đăng.

Một trong những điểm nổi bật của Thông tư 61/2025/TT-BNNMT là việc thiết lập hệ thống định mức chi tiết cho từng bước trong quy trình quan trắc: từ khảo sát vị trí, lắp đặt thiết bị, thu thập và truyền dẫn dữ liệu, đến xử lý, kiểm định và dự báo nguồn nước.Thông tư không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà quy định chuẩn kỹ thuật cụ thể cho từng loại trạm quan trắc (tự động, bán tự động, thủ công) và từng loại thông số quan trắc (lưu lượng, mực nước, chất lượng nước, độ mặn, xâm nhập mặn…).

Đặc biệt, đây là lần đầu tiên yêu cầu bắt buộc ứng dụng công nghệ số và mô hình dự báo hiện đại. Dữ liệu quan trắc phải được truyền tải theo thời gian thực, tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia và phục vụ trực tiếp cho các kịch bản điều tiết nguồn nước. Thông tư cũng quy định rõ hệ số điều chỉnh định mức theo vùng địa lý, điều kiện thủy văn, hải văn và mức phát triển kinh tế - xã hội, giúp vừa đảm bảo linh hoạt vừa duy trì sự chuẩn hóa kỹ thuật.

Tăng cường minh bạch và hiệu quả sử dụng ngân sách

Trước đây, chi phí quan trắc tài nguyên nước thường được tính theo kinh nghiệm, dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa các đơn vị và khó khăn trong thẩm định, kiểm soát ngân sách. Thông tư 61/2025/TT-BNNMT đã thiết lập phương pháp xác định định mức rõ ràng cho nhân công, thiết bị, vật tư và chi phí vận hành, loại bỏ cơ chế “xin - cho” trong lập dự toán.

Các định mức này trở thành cơ sở pháp lý cho việc đấu thầu và đặt hàng dịch vụ công theo Luật Đấu thầu, đồng thời mở rộng cơ hội cho các doanh nghiệp đủ năng lực tham gia cung cấp dịch vụ, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư. Nhờ đó, ngân sách nhà nước được sử dụng đúng mục tiêu, đúng định mức và dễ dàng đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả thực tế.

Lần đầu tiên hoạt động quan trắc tài nguyên nước có bộ định mức thống nhất, trở thành căn cứ bắt buộc trong lập dự toán, đấu thầu, đặt hàng dịch vụ công và đánh giá hiệu quả đầu tư. Ảnh:Tiến Hạnh.

Hài hòa với chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu cảnh báo sớm

Thông tư 61/2025/TT-BNNMT không chỉ đáp ứng yêu cầu pháp lý trong nước mà còn hướng đến hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế, tương tự như các quốc gia phát triển trong lĩnh vực tài nguyên nước. Việc áp dụng mô hình dự báo số, hệ thống cảm biến tự động, đo trực tuyến theo thời gian thực và quản trị dữ liệu tập trung là xu hướng chung trên thế giới.

Dữ liệu quan trắc được sử dụng trực tiếp để cung cấp cảnh báo sớm về hạn hán, lũ lụt, suy giảm mực nước hay ô nhiễm nguồn nước, giúp cơ quan điều hành chủ động triển khai phương án điều tiết hồ chứa, phân phối nước cho các ngành sản xuất trọng yếu và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đối mặt với biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước xuyên biên giới ngày càng tăng.

Trong lộ trình triển khai Luật Tài nguyên nước 2023, Thông tư 61/2025/TT-BNNMT là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa các quy định về kịch bản nguồn nước, phân bổ nước theo thứ tự ưu tiên và xây dựng hệ thống giám sát quốc gia. Văn bản này tạo hành lang pháp lý để dữ liệu quan trắc trở thành căn cứ bắt buộc trong mọi quyết định quản lý nguồn nước, từ cấp bộ đến địa phương.

Lần đầu tiên Thông tư 61/2025/TT-BNNMT tích hợp đầy đủ các yếu tố công nghệ số, mô hình dự báo hiện đại, cùng yêu cầu xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và kết nối liên thông giữa các lĩnh vực: nông nghiệp, thủy điện, đô thị, công nghiệp. Thông tư phù hợp với định hướng quản trị tài nguyên nước chủ động theo Luật Tài nguyên nước 2023.

 

Nguồn: https://mae.gov.vn/tai-nguyen-nuoc/chuan-hoa-quy-trinh-ky-thuat-quan-trac-canh-bao-va-du-bao-nguon-nuoc-20166.htm

 

Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật quan trắc, cảnh báo và dự báo nguồn nước

 

Quy hoạch thủy lợi cho 4 triệu ha lưu vực sông Cửu Long

  

Chọn cỡ chữ   

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 2307/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo Quy hoạch, phạm vi điều chỉnh bao trùm toàn bộ địa giới hành chính vùngĐồng bằng sông Cửu Long, bao gồm thành phố Cần Thơ, các tỉnh Vĩnh Long, Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp và một phần tỉnh Tây Ninh, với tổng diện tích khoảng 4 triệu ha (không bao gồm các đảo). Đây là khu vực có vai trò chiến lược đối với an ninh lương thực quốc gia, phát triển kinh tế nông nghiệp và xuất khẩu thủy sản.

Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long hướng đến năm 2030, bảo đảm cấp và tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho khoảng 17 - 18 triệu người dân. Ảnh: Minh Anh.Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long hướng đến năm 2030, bảo đảm cấp và tạo nguồn cấp nước sinh hoạt cho khoảng 17 - 18 triệu người dân. Ảnh: Minh Anh.

Chủ động điều tiết nguồn nước, thích ứng với phát triển thượng nguồn và biến đổi khí hậu

Mục tiêu tổng quát của Quy hoạch nhằm chủ động điều tiết nguồn nước, thích ứng với phát triển thượng nguồn và biến đổi khí hậu để cấp nước, tiêu, thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, tạo nguồn cấp nước bền vững cho dân sinh và các ngành kinh tế; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình sản xuất một cách linh hoạt; nâng cao năng lực chủ động phòng, chống thiên tai, sẵn sàng ứng phó với trường hợp bất lợi nhất; đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường; góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, giữ vững quốc phòng, an ninh. 

Quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2050 bảo đảm nguồn nước bền vững phục vụ sản xuất và đời sống trong mọi điều kiện bất lợi; giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn. Ảnh: Minh Anh.Quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2050 bảo đảm nguồn nước bền vững phục vụ sản xuất và đời sống trong mọi điều kiện bất lợi; giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn. Ảnh: Minh Anh.

Trên cơ sở đó, Quy hoạch đề ra các mục tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2030, tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm:

Thứ nhất, về cấp nước và tưới tiêu, Quy hoạch phấn đấu bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho khoảng 17 - 18 triệu người và đáp ứng nhu cầu nước cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao thông qua hệ thống công trình thủy lợi. Đặc biệt, mục tiêu ưu tiên là bảo đảm cấp nước chủ động cho khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp, kể cả trong điều kiện hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn tương tự giai đoạn 2015 - 2016; đến năm 2030 phải giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại các vùng chịu ảnh hưởng nặng nề.

Thứ hai, về hạ tầng thủy lợi phục vụ sản xuất, Quy hoạch đặt mục tiêu nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới các công trình thủy lợi, hoàn thiện hệ thống kênh rạch kết hợp với giao thông nội đồng. Qua đó, chủ động tưới, tiêu và điều tiết nước mặn - ngọt cho khoảng một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp, hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển nông nghiệp bền vững.

Thứ ba, về tiêu thoát nước và chống ngập úng, Quy hoạch yêu cầu chủ động tiêu thoát nước ra các sông trục chính, mở rộng diện tích tiêu bằng động lực để bảo vệ vùng trũng thấp phục vụ dân sinh và sản xuất với tần suất từ 5% đến 10%. Đồng thời, bảo đảm tiêu thoát nước cho 1,6 triệu ha lúa 2 - 3 vụ, 0,4 - 0,45 triệu ha cây ăn trái, 0,21 triệu ha cây hàng năm và 0,8 triệu ha nuôi trồng thủy sản; đáp ứng yêu cầu tiêu thoát cho các khu đô thị và khu công nghiệp.

Thứ tư, về phòng chống thiên tai và kiểm soát mặn, Quy hoạch hướng đến phòng chống ngập úng với tần suất 1% cho các đô thị trọng điểm như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp. Cùng với đó, dành từ 7% đến 10% diện tích đất đô thị để làm không gian trữ nước kết hợp cảnh quan sinh thái; chủ động kiểm soát mặn trên khoảng 1,35 triệu ha đất nông nghiệp thông qua các điểm khống chế mặn với ngưỡng từ 1g/l đến 4g/l, nhằm bảo đảm an toàn sản xuất và ổn định sinh kế của người dân.

Để đạt được các mục tiêu trên, Quy hoạch đưa ra các nhóm giải pháp đồng bộ, bao gồm phân vùng sinh thái, xác định các điểm kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống công trình thủy lợi và triển khai các giải pháp phi công trình nhằm nâng cao tính chủ động của toàn vùng.

Quy hoạch đưa ra giải pháp thực hiện các mục tiêu trong đó có việc phân vùng quy hoạch, điểm khống chế mặn; giải pháp công trình; giải pháp phi công trình.

 Tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Cửu Long hướng tới bảo đảm chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh trong mọi tình huống bất lợi, giảm thiểu thiệt hại cho đời sống và sản xuất của người dân do tình trạng hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn gây ra ở mức thấp nhất. Bảo đảm đầu tư đồng bộ, khép kín các hệ thống công trình thủy lợi từ đầu mối đến nội đồng, giải quyết cơ bản hiện tượng ngập úng do lũ, mưa và triều cường cho các khu vực đô thị bằng các giải pháp thủy lợi... 

Ba vùng sinh thái

Về phân vùng quy hoạch sẽ bao gồm: vùng sinh thái ngọt; vùng sinh thái ngọt - lợ và vùng sinh thái mặn với các giải pháp công trình tương ứng. 

Trong đó, vùng sinh thái ngọt với diện tích 1,9 triệu ha bao gồm một phần của hệ thống thủy lợi Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Bắc Vàm Nao, Nam Vàm Nao, vùng Tây sông Hậu, Bắc Vĩnh An, U Minh Hạ, thuộc một phần các tỉnh, thành phố: Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau. Định hướng phát triển thủy lợi cho vùng này phục vụ cho các mô hình sản xuất: cây ăn trái, lúa, rau màu và thủy sản nước ngọt.

Giải pháp công trình là tập trung giải pháp kiểm soát lũ tràn biên giới từ Campuchia vào Việt Nam tại vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười; lũ trên dòng chính sông Tiền, sông Hậu; tăng khả năng tiêu, thoát lũ nội đồng. Đồng thời tăng cường cấp nước từ sông chính vào các khu vực xa sông gần biển, các khu vực thiếu nước ngọt; xây dựng hệ thống cống lớn đầu kênh, cống cửa sông, cống dưới đê thành các ô bao lớn để chủ động chống ngập úng, tiêu, thoát nước; nạo vét kênh, rạch tăng khả năng cấp, tiêu, thoát nước.

Công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé. Ảnh: Nguyễn Thủy.Công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Vùng sinh thái ngọt - lợ có diện tích 1,35 triệu ha bao gồm các hệ thống thủy lợi Nhật Tảo - Tân Trụ, Gò Công, Bắc Bến Tre, Nam Bến Tre, Nam Măng Thít, Long Phú - Tiếp Nhật, U Minh Thượng, một phần của Tứ Giác Long Xuyên, thuộc một phần các tỉnh, thành phố: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh. Định hướng phát triển thủy lợi cho vùng này phục vụ cho các mô hình sản xuất: cây ăn trái, lúa, tôm - lúa. Các giải pháp thủy lợi cần linh hoạt phục vụ chuyển đổi sản xuất, phù hợp với điều kiện nguồn nước.

Giải pháp công trình là hoàn thiện khép kín hệ thống thủy lợi chủ động cấp, tiêu, thoát nước phục vụ dân sinh, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái. Hoàn thiện, khép kín các hệ thống thủy lợi, xây dựng các công trình kiểm soát mặn.

Vùng sinh thái mặn với diện tích 0,75 triệu ha vùng ven biển thuộc các tỉnh/thành phố: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh. Định hướng phát triển thủy lợi cho vùng này tập trung phục vụ cho nuôi trồng thủy sản với các hình thức: thâm canh, quảng canh cải tiến, tôm - rừng.

Giải pháp công trình là hoàn thiện hệ thống thủy lợi để chủ động điều tiết nguồn nước mặn - ngọt, kiểm soát triều cường; hoàn thiện các ô bao thủy lợi để bảo vệ khu vực sản xuất; tăng cường trữ nước trong hệ thống kênh, rạch; cân đối, điều hòa nguồn nước giữa các khu vực; đề xuất giải pháp cấp nước mặn từ biển. Tiếp tục đầu tư xây dựng củng cố, nâng cấp các tuyến đê biển, hệ thống kè chắn sóng gây bồi, tạo bãi kết hợp với trồng rừng ngập mặn bảo vệ đê biển, bờ biển...

Điểm khống chế mặn trên dòng chính với độ mặn 1g/l phục vụ cấp nước sinh hoạt và cây ăn trái:trên sông Vàm Cỏ Tây tại cống Bắc Đông; trên sông Tiền tại đầu kênh Nguyễn Tấn Thành; trên sông Hàm Luông tại An Hiệp; trên sông Cổ Chiên tại vị trí hợp lưu với sông Măng Thít; trên sông Hậu tại kênh Cái Cui; trên sông Cái Lớn tại cầu Cái Tư.

Điểm khống chế mặn trên dòng chính với độ mặn 4g/l ngưỡng mặn tối đa phục vụ sản xuất lúa:trên sông Tiền tại cống Xuân Hòa; trên sông Hàm Luông tại Mỹ Hóa; trên sông Cổ Chiên tại cống Vũng Liêm; trên sông Hậu tại kênh Cái Côn; trên sông Vàm Cỏ Tây tại Tân An.

Nguồn: bonongnghiepvamoitruong.vn

 

Quy hoạch thủy lợi cho 4 triệu ha lưu vực sông Cửu Long

 

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh

 

Chọn cỡ chữ   

Nhiệm kỳ 2020–2025 chứng kiến nhiều dấu ấn quan trọng, những nỗ lực vượt bậc của ngành Nông nghiệp và Môi trường trong bối cảnh thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức. Từ vai trò "trụ đỡ của nền kinh tế" đến trụ cột phát triển bền vững của quốc gia, hai lĩnh vực này đã có bước phát triển toàn diện, đóng góp thiết thực vào ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 1.Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 1.

Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng: Nhiệm kỳ 2025-2030, toàn ngành xác định đây là giai đoạn quan trọng để ngành Nông nghiệp và Môi trường vững vàng bước vào Kỷ nguyên vươn mình, thịnh vượng, giàu mạnh của dân tộc

Nhân dịp Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ phỏng vấn Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng về những dấu ấn tiêu biểu của ngành trong nhiệm kỳ qua cũng như định hướng, mục tiêu phát triển trong giai đoạn 2025-2030.

Tập trung các khâu đột phá chiến lược

Thưa đồng chí, trong nhiệm kỳ 2020-2025, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã vượt qua những thách thức và đạt được những thành tựu nổi bật như thế nào?

Đồng chí Trần Đức Thắng:Nhiệm kỳ 2020-2025 là một giai đoạn đặc biệt khó khăn và đầy thách thức. Thế giới chứng kiến chuỗi cung ứng lương thực, thực phẩm toàn cầu bị đứt gãy do dịch bệnh COVID-19; cùng với đó là những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra các hình thái thời tiết hết sức cực đoan, như hạn hán, xâm nhập mặn kéo dài, lũ lụt, bão, sụt lún, sạt lở… làm tổn thất nghiêm trọng đến năng suất, sản lượng cây trồng, thủy sản và hệ sinh thái nông nghiệp. Xung đột Nga - Ukraine kéo dài từ năm 2022 cũng tạo cú sốc lớn, đẩy giá nông sản leo thang. Trong nước, chúng ta phải đối mặt với tác động kép của biến đổi khí hậu và dịch bệnh; lại thêm biến động thị trường, biến chuyển xu hướng tiêu dùng… tạo ra những thách thức chưa từng có cho nền kinh tế nói chung và ngành Nông nghiệp và Môi trường nói riêng.

Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm sâu sát lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của doanh nghiệp, người dân; toàn ngành với ý chí, khát vọng và tinh thần đoàn kết, kỷ cương, trách nhiệm đã nỗ lực vươn lên vượt bậc để phát triển toàn diện. Toàn ngành đã tập trung chỉ đạo thúc đẩy cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng sinh thái, xanh, bền vững, chất lượng và giá trị gia tăng cao; nhờ đó nông nghiệp liên tục phát huy vai trò "trụ đỡ" của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và an ninh lương thực quốc gia, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm mục tiêu đề ra, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống người dân. Dịch vụ, du lịch nông nghiệp, nông thôn phục hồi và phát triển nhanh sau dịch bệnh Covid-19 đã thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, chuyển dịch theo hướng hiện đại; khai thác thế mạnh kinh tế biển, kinh tế lâm nghiệp với giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng.

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 2.Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 2.

 Nông nghiệp liên tục phát huy vai trò "trụ đỡ" của nền kinh tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và an ninh lương thực quốc gia, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế

Một trong những điểm sáng rõ nét nhất là việc ngành Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu đề ra. Cụ thể, 9/9 chỉ tiêu về nhiệm vụ chính trị đặt ra từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đều đã đạt được. Đặc biệt, nhiều chỉ tiêu còn vượt xa mục tiêu ban đầu: Tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành nông nghiệp dự kiến đạt 3,7%/năm (vượt, kế hoạch 2,5 - 3%/năm), năm 2025 tăng trưởng GDP toàn ngành phấn đấu đạt 4%. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng trên 8,4%/năm (vượt, kế hoạch 5 - 6%/năm), năm 2025 dự kiến đạt trên 65 tỷ USD. Hoàn thành chỉ tiêu 80% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ che phủ rừng năm 2025 đạt 42,03% (vượt, kế hoạch 42%). Tỷ lệ Khu công nghiệp (KCN) có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 92,3% (vượt, kế hoạch 92%). Bên cạnh đó, toàn bộ các chỉ tiêu về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 đều đạt 100% so với mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội.

Toàn ngành cũng đã tập trung vào các khâu đột phá chiến lược. Trong đó, xây dựng, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế là điểm sáng nổi bật. Trong giai đoạn 2020-2024, Ban cán sự Đảng của hai Bộ trước đây và Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ hiện nay đã tham mưu ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, chiến lược quan trọng, tạo lập hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ, xử lý "điểm nghẽn" và khơi thông nguồn lực phát triển.

Mới đây là thể chế hóa các quan điểm, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp tại bốn Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị ("bộ tứ trụ cột"), các Nghị quyết về văn hóa, y tế, giáo dục… để khơi thông nguồn lực, tạo động lực mới cho tăng trưởng, phát triển ngành.

Đồng thời, ngành đã quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai các chủ trương, định hướng về công tác tổ chức, cán bộ, tinh gọn bộ máy và cải cách hành chính. Đặc biệt, việc hợp nhất hai Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo Nghị định số 35/2025/NĐ-CP ngày 25/02/2025 là một quyết sách lịch sử, tạo nền móng pháp lý vững chắc cho sự phát triển của ngành.

Bên cạnh đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện đột phá chiến lược xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn hiện đại, đồng bộ, nâng cao chất lượng phục vụ sản xuất và đời sống. Hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp và môi trường được triển khai, hỗ trợ hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành và giải quyết thủ tục hành chính.

Những thành tựu này là minh chứng cho sự đoàn kết, chủ động, đổi mới sáng tạo của toàn ngành, sự chung sức, đồng lòng của địa phương, doanh nghiệp và người dân, góp phần quan trọng vào thành quả chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 3.Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 3.

Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng liên tục trong 5 qua.

Nông nghiệp và Môi trường: Hai trụ cột song hành

Thưa đồng chí, trong quan điểm phát triển mới, nông nghiệp và môi trường không còn là hai lĩnh vực tách biệt mà được coi là hai trụ cột song hành. Đồng chí có thể chia sẻ rõ hơn cách nhìn nhận, định hướng và những kết quả nổi bật trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên và ứng phó biến đổi khí hậu trong giai đoạn 2020-2025?

Đồng chí Trần Đức Thắng:Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được xem là dấu mốc quan trọng, khẳng định rõ vai trò "nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế". Văn kiện này đặt ra mục tiêu phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn 2045 - coi đây là nền tảng cho ổn định xã hội và phát triển bền vững đất nước.

Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tích hợp đa giá trị, gắn sản xuất với chế biến, dịch vụ và thị trường tiêu thụ; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số, hình thành các chuỗi giá trị nông sản hiện đại. Với định hướng đó, nông nghiệp Việt Nam không chỉ là "tấm đệm an sinh" trong giai đoạn khó khăn, mà đang trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng sống của hàng chục triệu nông dân.

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 4.Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 4.

 Môi trường không còn là “hậu phương” của tăng trưởng, mà đã trở thành trụ cột song hành, gắn chặt với mọi chiến lược phát triển quốc gia.

Cùng với kinh tế và xã hội, môi trường luôn được xác định là một trong ba trụ cột phát triển bền vững của quốc gia. Tư tưởng đó được thể hiện xuyên suốt từ Nghị quyết 41-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, khẳng định phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.

Quan điểm này được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường 2020, nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm và tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững". Như vậy, môi trường không còn là "hậu phương" của tăng trưởng, mà đã trở thành trụ cột song hành, gắn chặt với mọi chiến lược phát triển quốc gia.

Trong giai đoạn 2021-2025, ngành nông nghiệp Việt Nam chứng kiến những bước tiến vượt bậc: cơ cấu lại sản xuất theo hướng thị trường, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao như thủy sản, rau, hoa, quả, cây công nghiệp, đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Nhiều vùng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao, đạt chuẩn GlobalGAP, VietGAP được hình thành.

Trồng trọt chuyển dịch mạnh, gần 478 nghìn ha lúa kém hiệu quả được chuyển sang cây trồng và nuôi trồng khác cho giá trị kinh tế cao hơn. Năng suất lúa vẫn duy trì mức tăng 2%/năm, đưa sản lượng lúa năm 2024 đạt 43,5 triệu tấn, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực. Chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp, an toàn sinh học, hữu cơ. Năm 2024, tổng sản lượng thịt hơi đạt 8,3 triệu tấn, tăng hơn 28% so với năm 2020. Lâm nghiệp gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường: diện tích trồng rừng mới hơn 260 nghìn ha/năm, thu từ dịch vụ môi trường rừng đạt gần 3.700 tỷ đồng/năm, góp phần bảo vệ hơn 7,3 triệu ha rừng. Thủy sản phát triển mạnh, sản lượng năm 2024 đạt 9,6 triệu tấn, tăng 16,4% so với năm 2020, trong đó nuôi trồng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Nhiều địa phương đẩy mạnh khai thác xa bờ, chống khai thác IUU, nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới.

Đồng thời, bất chấp khó khăn toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2024 đạt 62,5 tỷ USD, mức cao kỷ lục, thặng dư thương mại 17,9 tỷ USD. Các mặt hàng tỷ USD như gạo, cà phê, trái cây, gỗ, thủy sản tiếp tục duy trì vị thế trên thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU. Cùng với đó, chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) có trên 16.500 sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, góp phần định hình thương hiệu nông sản Việt.

Chương trình Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả toàn diện: đến giữa năm 2025, có 79,3% xã đạt chuẩn, 24 tỉnh đạt 100% xã nông thôn mới. Thu nhập nông dân tăng mạnh, bình quân đạt 55 triệu đồng/năm, tỷ lệ nghèo giảm còn 1,93%, phản ánh hiệu quả của chính sách tam nông.

Bên cạnh đó, ngành cũng tập trung quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, chủ động ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Trong đó, Luật Đất đai 2024, Luật Tài nguyên nước 2023, Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 được ban hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho quản lý tài nguyên thiên nhiên minh bạch, bền vững. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia hoàn thiện, kết nối toàn quốc; 11 quy trình vận hành liên hồ chứa đảm bảo an ninh nguồn nước; điều tra khoáng sản đạt 70% diện tích đất liền và 40% vùng biển Việt Nam, đóng góp 5.000 tỷ đồng/năm cho ngân sách.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng các chiến lược quốc gia đến năm 2050 về biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí metan, phát triển thị trường carbon khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong mục tiêu "Net Zero 2050"; Đến năm 2025, tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị đạt 95%, diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ phục hồi trên 4 triệu ha, và khu bảo tồn thiên nhiên chiếm trên 7,5% lãnh thổ.

Công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn (KTTV) được hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển và phòng chống thiên tai. Độ tin cậy trong dự báo bão, mưa lớn, rét đậm, lũ lụt, nắng nóng, dông sét, sạt lở đất được nâng lên rõ rệt; Quản lý, khai thác công trình thủy lợi có nhiều đổi mới. Các công trình được vận hành linh hoạt phục vụ đa mục tiêu, từ sản xuất, dân sinh đến phòng chống hạn, xâm nhập mặn và úng ngập. Công tác phòng chống thiên tai được triển khai đồng bộ, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, chính sách và tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương. Hệ thống đê điều được quản lý chặt chẽ, duy trì nền nếp, sẵn sàng ứng phó, bảo đảm an toàn trong mùa mưa lũ.

Ngoài ra, trong lĩnh vực công tác tổng hợp, đầu tư phát triển và quản lý tài chính của ngành được quan tâm đặc biệt. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế cũng được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu và đạt nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Chúng ta đã chủ động thúc đẩy nhiều chương trình, hoạt động đối ngoại đa phương, hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, các đối tác song phương, đặc biệt là các nước láng giềng. Điều này không chỉ giúp tiếp cận các hỗ trợ kỹ thuật, khoa học, công nghệ, tri thức và các dòng vốn cho phát triển, mà còn phối hợp đàm phán, tháo gỡ kỹ thuật, mở cửa thị trường cho nhiều sản phẩm nông lâm thủy sản sang các thị trường lớn. Việt Nam từng bước trở thành một hình mẫu phát triển về phát thải carbon thấp, nông nghiệp xanh, đóng góp vào sự phát triển chung và cao hơn là bảo vệ sức khỏe, an ninh lương thực bền vững, chất lượng sống và an toàn, thịnh vượng.

Đặc biệt, toàn ngành đã thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và đẩy mạnh chuyển đổi số. Đảng ủy Bộ xác định khoa học và công nghệ là giải pháp đột phá về năng suất, chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh, là động lực phát triển nông nghiệp xanh, sạch, thông minh. Ngành Nông nghiệp và Môi trường đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện 51 Chương trình, Kế hoạch quốc gia về các nội dung, nhiệm vụ của ngành. Ngành đã đầu tư và chỉ đạo hoạt động của 21 tổ chức khoa học và công nghệ (16 viện chuyên ngành và 05 viện quy hoạch) và 34 đơn vị đào tạo, cùng với 180 phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ khoa học lớn với hơn 11.000 người tại các đơn vị thuộc Bộ đã được hình thành. Tới đây sẽ sắp xếp, cơ cấu lại toàn diện các tổ chức này theo Nghị quyết của Bộ Chính trị và theo Quy hoạch, Quyết định phê duyệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ cũng đã ban hành 1.832 TCVN và 175 QCVN, cơ bản bao quát đầy đủ các chuyên ngành. Chuyển đổi số được tăng cường ứng dụng, triển khai xây dựng có hiệu quả Chính phủ số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông và quản lý nhà nước chuyên ngành. Các hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp thường xuyên được cập nhật, tương tác hiệu quả.

Tất cả những kết quả ấy cho thấy, nông nghiệp và môi trường không chỉ là hai ngành kinh tế - kỹ thuật, mà là hai trụ đỡ chiến lược bảo đảm cho đất nước phát triển hài hòa, bền vững, hướng tới tương lai xanh, thịnh vượng.

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 5.Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh- Ảnh 5. 

Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trung tâm và tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững 

4 đột phá chiến lược giúp ngành nông nghiệp và môi trường đổi mới toàn diện

Xin đồng chí cho biết ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đề ra những mục tiêu tổng quát và những đột phá chiến lược nào để thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong giai đoạn 2025-2030?

Đồng chí Trần Đức Thắng:Nhiệm kỳ 2025-2030, toàn ngành xác định đây là giai đoạn quan trọng để ngành Nông nghiệp và Môi trường vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình, thịnh vượng, giàu mạnh của dân tộc, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước, hướng tới tầm nhìn đến năm 2045. Với phương châm "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển", ngành Nông nghiệp và Môi trường đề ra 6 mục tiêu tổng quát:

(1) Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa đồng thời phát triển nông nghiệp dựa trên lợi thế so sánh quốc gia theo hướng hiện đại có năng suất, chất lượng cao, hiệu quả, bền vững, có sức cạnh tranh cao thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á và Top 15 trên thế giới vào năm 2030. Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, kim ngạch xuất khẩu nông sản duy trì đà tăng trưởng cao, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước và sinh kế người dân.

(2) Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững; ngăn chặn xu hướng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường.

(3) Nâng cao đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào tăng trưởng Ngành thông qua các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ của các tổ chức khoa học công nghệ công lập và khu vực tư nhân. Đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngành ở mức trên 50%.

(4) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, huy động có hiệu quả nguồn lực quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của ngành nông nghiệp và môi trường; ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống (lương thực, tài nguyên nước, khoáng sản, khí hậu, đa dạng sinh học…), đảm bảo lợi ích của Việt Nam trên trường quốc tế.

(5) Đến năm 2030, hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn cơ bản đồng bộ, hiện đại. Giải quyết căn bản nước sinh hoạt cho các đảo có đông dân cư; hoàn thiện đồng bộ hệ thống công trình điều tiết nước mặn, nước ngọt, tích trữ nước trên các lưu vực sông lớn; cân đối đủ nước phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thành sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp, thiếu năng lực phòng, chống lũ. Tập trung phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển tại các khu vực trọng điểm xung yếu.

(6) Phát huy tối đa tiềm năng, giá trị tài nguyên, không gian biển; chú trọng tài nguyên vùng bờ và sự kết nối giữa đất liền và biển; tạo lập cơ sở cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển, góp phần hình thành, phát triển các ngành kinh tế biển vững mạnh, tạo nhiều sinh kế hiệu quả cho người dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; từng bước đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã xác định tập trung thực hiện 4 đột phá chiến lược sau:

Thứ nhất, quyết liệt cải cách, hoàn thiện thể chế, pháp luật, khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng mọi nguồn lực cho phát triển; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; cải cách, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính đảm bảo công khai, minh bạch. Tập trung xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành các luật sửa đổi, bổ sung các Luật về đất đai, Địa chất và Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường và các luật quan trọng khác trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường.

Thứ hai, thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ kiến tạo, phát triển ngành. Tập trung triển khai các cơ chế thử nghiệm, thí điểm vượt trội cho các mô hình sản xuất nông nghiệp; hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành, trong đó quyết tâm hoàn thành cơ bản cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia trong năm 2025.

Thứ ba, tạo đột phá mạnh mẽ trong xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường đồng bộ, hiện đại, trong đó tập trung nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và nâng cấp hạ tầng phòng, chống thiên tai; tăng cường các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển thủy lợi đa mục tiêu; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ nông lâm thủy sản, bảo vệ và phát triển rừng.

Thứ tư, tập trung phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao; tạo đột phá, chuyển biến mạnh trong công tác cán bộ, thu hút và trọng dụng nhân tài. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp thực sự tiêu biểu, nhất là người đứng đầu; Chú trọng xây dựng đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, đội ngũ doanh nhân, nông dân chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn phát triển mới của ngành.

Tôi tin tưởng rằng, với quan tâm sâu sát lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của doanh nghiệp, người dân, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành công hơn nữa trong nhiệm kỳ 2025-2030, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đề ra, khẳng định quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và hướng tới năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, hiện thực hóa tầm nhìn về một Việt Nam giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.

Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Theo Chinhphu.vn

Nông nghiệp - Môi trường: Hợp lực vì tương lai xanh

 

Chống ngập đô thị [Bài 1] – Khi phố thành sông

Mưa lớn đầu tháng 10 lại khiến Hà Nội chìm trong biển nước, lộ ra những bất cập trong quy hoạch, phát triển hạ tầng, tích hợp ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Oằn mình trong trận lũ lịch sử

Thái Nguyên thiệt hại nặng về sản xuất, chăn nuôi do mưa lũ

Bắc Ninh hỗ trợ khẩn cấp 20 tỷ đồng cho nhân dân vùng lũ

Bắc Ninh chủ động kiểm soát các điểm đê xung yếu

Hà Nội “ngộp thở” trong biển nước sau hai đợt mưa bão

Khoảng 9h sáng nay (11/10), mưa rào diện rộng đổ xuống Hà Nội, kéo dài gần một giờ khiến nhiều tuyến phố bị ngập sâu từ 10 đến 30 cm. Lực lượng chức năng ghi nhận hơn 10 điểm ngập trên toàn thành phố.

Mưa lớn kéo dài nhiều giờ diễn ra sáng sáng 7/10 khiến toàn thành phố Hà Nội 'ngộp thở' trong biển nước. Ảnh: Nguyễn Thủy.Mưa lớn kéo dài nhiều giờ diễn ra sáng sáng 7/10 khiến toàn thành phố Hà Nội 'ngộp thở' trong biển nước. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Trận mưa này không kéo dài nhưng tiếp tục gây ngập. Trước đó, Hà Nội đã liên tiếp hứng chịu hai trận mưa bão lịch sử khiến toàn thành phố “ngộp thở” trong biển nước. Cuối tháng 9, hoàn lưu bão Bualoi đã trút lượng mưa từ 120 đến hơn 600 mm, gây ra 116 điểm ngập với mực nước từ 30 cm đến 1,5 m. Nhiều khu dân cư chìm trong nước suốt nhiều ngày.

Chưa kịp khắc phục hậu quả, đêm 6 và sáng 7/10, hoàn lưu bão số 11 (Matmo) tiếp tục đổ xuống lượng mưa cực lớn, có nơi lên tới 261 mm chỉ trong vài giờ khiến 122 điểm ngập mới xuất hiện. Trong đó, 29 điểm ngập nặng, giao thông tê liệt, hàng nghìn phương tiện chết máy, người dân phải dắt xe lội nước hoặc quay đầu tìm đường khác. Đến sáng 8/10, dù trời đã tạnh, vẫn còn 13 điểm ngập úng, có nơi nước sâu nửa mét.

Thống kê của ngành xây dựng cho thấy, giai đoạn 2012-2022, Hà Nội ghi nhận hơn 200 điểm ngập tại 16 quận, huyện, và con số này vẫn tiếp tục tăng. Rõ ràng, ngập úng không còn là hiện tượng bất thường mà đã trở thành “bệnh mãn tính” của đô thị. Đây là hệ quả của hạ tầng quá tải và biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan.

Khi nước mưa không còn lối thoát

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh - Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam, hệ thống thoát nước Hà Nội hiện đã “lỗi thời” so với tốc độ đô thị hóa. Hệ thống này chỉ được thiết kế cho lượng mưa khoảng 310 mm trong hai ngày, trong khi các trận mưa gần đây thường vượt xa ngưỡng đó. “Khi toàn bộ nước đổ dồn vào cống nhỏ, ngập là điều không tránh khỏi”, GS Việt Anh nói.

Người dân gia cố bờ bao nhằm hạn chế nước ngập xâm nhập vào tầng hầm khu dân cư. Ảnh: Nguyễn Thủy.Người dân gia cố bờ bao nhằm hạn chế nước ngập xâm nhập vào tầng hầm khu dân cư. Ảnh: Nguyễn Thủy.
 Cùng quan điểm, TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm - nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội cho rằng, thành phố đã mất khoảng hai phần ba diện tích mặt nước tự nhiên. Nhiều hồ, ao, mương, ruộng,  vốn là “túi chứa nước” và “phổi xanh” đã bị san lấp để nhường chỗ cho đô thị mới. “Khi không còn không gian chứa và điều tiết nước, ngập úng chỉ còn là vấn đề thời gian”, TS Nghiêm phân tích.

Bổ sung thêm, ông Lê Văn Du - Trưởng phòng Quản lý Hạ tầng cấp, thoát nước (Sở Xây dựng Hà Nội) cho biết, nhiều dự án hồ điều hòa, trạm bơm, kênh tiêu vẫn chậm tiến độ hoặc chưa vận hành hiệu quả. Việc chưa tách riêng hệ thống nước mưa và nước thải khiến cống quá tải, vừa gây ngập úng, vừa làm ô nhiễm sông hồ nội đô.

Dưới áp lực khí hậu, ngập lụt đô thị sẽ còn trầm trọng hơn

Các chuyên gia môi trường cảnh báo, biến đổi khí hậu đang khiến mưa cực đoan gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, làm trầm trọng thêm những yếu kém sẵn có của hạ tầng đô thị. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lượng mưa lớn trên 100 mm/giờ đã tăng nhanh trong 30 năm qua; giai đoạn 1990-2020, số ngày mưa cực đoan ở miền Bắc tăng gần 20%, trong khi lượng mưa trung bình năm tăng 10-15%.

Điều này đồng nghĩa với việc Hà Nội và nhiều đô thị khác sẽ phải đối mặt với những trận mưa lớn hơn, ngập sâu hơn và kéo dài hơn trong những năm tới, đặc biệt khi hệ thống thoát nước chưa được thiết kế phù hợp với các kịch bản khí hậu mới.

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, trời đã hửng nắng trở lại, song ở nhiều khu vực trũng, nước vẫn chưa rút hết, tình trạng ngập vẫn tiếp diễn. Ảnh: Nguyễn Thủy.Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, trời đã hửng nắng trở lại, song ở nhiều khu vực trũng, nước vẫn chưa rút hết, tình trạng ngập vẫn tiếp diễn. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Nếu như trước đây ngập chỉ xảy ra ở vùng trũng, thì nay, tình trạng này đã lan sang các khu đô thị mới. GS.TS Nguyễn Việt Anh lý giải: “Các khu đô thị mới bị bê tông hóa gần như hoàn toàn, khiến nước mưa không còn chỗ thấm, dồn nhanh về vùng thấp tạo thành ‘rốn lũ’ giữa lòng thành phố”.

Thực tế, theo kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, đến năm 2050, lượng mưa cực đoan tại đồng bằng sông Hồng có thể tăng thêm 15-20%, trong khi nhiệt độ trung bình tăng khoảng 1,9°C. Nhiệt độ cao hơn đồng nghĩa lượng hơi nước trong khí quyển nhiều hơn, kéo theo những cơn mưa dồn dập vượt quá khả năng tiêu thoát của hạ tầng hiện nay.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Chống ngập đô thị [Bài 1] – Khi phố thành sông

 
Trang 12345678910

Trang 2 trong tổng số 46 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1130
mod_vvisit_counterTrong tuần16775
mod_vvisit_counterTrong tháng25772
mod_vvisit_counterTất cả8123236

We have: 20 guests online