|
Lâm Đồng Lâm Đồng đặt mục tiêu ưu tiên nước sinh hoạt, điều tiết hợp lý nguồn nước và khoanh vùng nguy cơ thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn ngay từ đầu vụ sản xuất.
Quảng Trị đưa công nghệ vào quản lý, vận hành hồ thủy lợi
Hồ thủy lợi Đầm Xanh bị xâm phạm, ảnh hưởng đến thiết kế hồ chứa
Sớm mở rộng đối tượng thụ hưởng cho thủy lợi nhỏ từ Nghị định 77
Nuôi thủy sản lòng hồ thủy lợi, thủy điện: Tiềm năng còn bỏ ngỏ
Giữ nước cho dân sinh là ưu tiên hàng đầu
Trước dự báo mùa khô năm 2026 tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch yêu cầu các sở, ngành và địa phương chủ động theo dõi diễn biến thời tiết, đánh giá nguồn nước, xác định rõ vùng bảo đảm cấp nước và vùng có nguy cơ thiếu nước để kịp thời triển khai giải pháp ứng phó.
UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu sử dụng tài nguyên nước hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, ưu tiên nguồn nước phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi và nước tưới cho cây trồng có giá trị kinh tế cao. Ảnh: Nhật Tiến.
Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, hiện toàn tỉnh có 624 công trình cấp nước tập trung nông thôn đang khai thác sử dụng, cung cấp nước sạch cho 186.504 hộ dân khu vực nông thôn. Trong đó có 169 trên 624 công trình hoạt động bền vững, 116 trên 624 công trình hoạt động tương đối bền vững, 41 trên 624 công trình hoạt động kém bền vững và 298 trên 624 công trình ngưng hoạt động. Thực trạng này cho thấy hệ thống cấp nước đã được đầu tư rộng khắp, song mức độ ổn định chưa đồng đều.
Vào các tháng mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau, khi nắng nóng kéo dài làm mực nước sông xuống thấp và dòng chảy thiếu hụt, việc cấp nước sinh hoạt có thể bị ảnh hưởng. Nguy cơ tập trung chủ yếu ở khu vực vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn chưa được đầu tư nâng cấp công trình nước sạch tập trung, chưa chủ động về nguồn nước.
Trước thực tế đó, UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu sử dụng tài nguyên nước hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, ưu tiên nguồn nước phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi và nước tưới cho cây trồng có giá trị kinh tế cao. Đồng thời khuyến cáo nhân dân không sản xuất ở những nơi có nguy cơ thiếu nước và lựa chọn các loại cây trồng phù hợp, tiết kiệm nước.
Chủ động tiết kiệm nước từ đầu vụ
Theo ông Lê Trọng Yên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng, đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó có 536 hồ chứa, 255 đập dâng, 13 cống dâng, 51 trạm bơm, 91 đập tạm và 20 kênh tiêu, cùng khoảng 3.632 km kênh mương. Đến nay đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53%.
Sau Tết Nguyên đán, nhu cầu tưới tiêu phục vụ cây trồng ở nhiều khu vực của tỉnh Lâm Đồng tăng mạnh do thời tiết nắng nóng. Ảnh: Phạm Hoài.
Hiện nguồn nước phân bố không đều giữa các khu vực, trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cả về chất lượng và số lượng. Lượng nước trữ từ các công trình thủy lợi và thủy điện chưa đạt theo thiết kế. Trường hợp nắng nóng kéo dài trên diện rộng, các hồ, đập tích không đủ nước, mực nước sông, suối xuống thấp, diện tích có nguy cơ bị thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn khoảng 15.000 đến 20.000 ha.
"Trước nguy cơ này, các địa phương và đơn vị quản lý công trình thủy lợi được yêu cầu xây dựng phương án chống hạn cụ thể cho từng khu vực, từng công trình. Đồng thời phải kiểm tra, cập nhật nguồn nước trên sông, suối, hồ, đập, khoanh vùng diện tích cây trồng có khả năng bị hạn và xây dựng kế hoạch sử dụng nước hợp lý, ưu tiên nước cho sinh hoạt, nước uống cho gia súc và tưới cho cây trồng có giá trị kinh tế cao", ông Yên chia sẻ.
Hiện tại nhiều nhà vườn trồng cà phê đang tưới để đảm bảo cung cấp đủ nước cho cây đậu trái vụ sau. Ảnh: Nhật Tiến.
Theo kế hoạch, việc điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi phù hợp với khả năng cung cấp nước của các hồ chứa. Các địa phương được khuyến khích áp dụng tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt và các giải pháp tiết kiệm nước, không mở rộng sản xuất tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước tưới.
Song song đó là yêu cầu kiểm tra hiện trạng các công trình thủy lợi, sửa chữa, nâng cấp, nạo vét khơi thông dòng chảy, chủ động lắp đặt trạm bơm dã chiến khi cần thiết và phối hợp với các công ty thủy điện trong điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh vùng hạ du.
Ngành nông nghiệp tỉnh khuyến cáo người dân bám sát nông lịch, sử dụng nước tiết kiệm ngay từ đầu vụ, chủ động trữ nước bằng nhiều hình thức phù hợp điều kiện thực tế và sản xuất trong phạm vi bảo đảm nguồn nước của từng vùng trong mùa khô năm 2026.
Dự kiến đến hết năm 2026, diện tích canh tác được tưới của Lâm Đồng đạt trên 73,45% diện tích cần tưới. Trong đó diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha, diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. Hệ thống công trình cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, song vẫn chịu tác động lớn từ điều kiện thời tiết và khả năng tích nước thực tế của từng hồ chứa.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật.
Chủ động bảo vệ tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Hướng đến quản lý tài nguyên nước chặt chẽ, hiệu quả
Hành trình 50 năm bền bỉ gìn giữ và khai mở tài nguyên nước Việt Nam
Tài nguyên nước - nền tảng cho phát triển bền vững
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật, đồng thời phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới sau quá trình sắp xếp, kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước.
Thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật tài nguyên nước, đồng thời phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới. Ảnh: Minh Quang.
Thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật tài nguyên nước, đồng thời phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới. Ảnh: Minh Quang.
Thông tư tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định tại Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT, Thông tư số 04/2024/TT-BTNMT, Thông tư số 05/2024/TT-BTNMT và Thông tư số 22/2024/TT-BTNMT - những văn bản quan trọng quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước, hướng dẫn công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước, thẩm định và nghiệm thu kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước, cũng như quy định về quan trắc, bảo vệ nước dưới đất.
Làm rõ đối tượng và trách nhiệm xác định vùng bảo hộ vệ sinh
Một trong những điểm nhấn quan trọng của Thông tư là bổ sung quy định cụ thể về đối tượng phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Theo đó, đối tượng áp dụng là các công trình khai thác tài nguyên nước để sản xuất, cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt thuộc trường hợp phải cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước theo quy định.
Thông tư đồng thời sửa đổi, bổ sung toàn diện Điều 13, quy định rõ trách nhiệm tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa theo từng trường hợp địa bàn. Đối với vùng bảo hộ nằm trên địa bàn một xã, Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì tổ chức xác định ranh giới, vị trí đặt biển chỉ dẫn trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận quyết định phê duyệt, đồng thời thông báo kết quả về Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Thông tư bổ sung quy định cụ thể về đối tượng phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Ảnh: Anh Khang.
Thông tư bổ sung quy định cụ thể về đối tượng phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Ảnh: Anh Khang.
Trường hợp vùng bảo hộ nằm trên địa bàn từ hai xã trở lên trong cùng một tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan chủ trì, phối hợp với các địa phương liên quan tổ chức xác định ranh giới và lắp đặt biển chỉ dẫn. Đối với vùng bảo hộ nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, Sở Nông nghiệp và Môi trường nơi có công trình khai thác nước giữ vai trò đầu mối điều phối, bảo đảm việc triển khai thống nhất, đúng quy định.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng làm rõ trách nhiệm phối hợp của các tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước, trong việc thi công, lắp đặt biển chỉ dẫn và bảo đảm các yêu cầu bảo vệ vùng bảo hộ vệ sinh.
Tăng cường vai trò chỉ đạo, giám sát của chính quyền địa phương
Song song với việc phân định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện, Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 14, quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh, kiểm tra, giám sát các hoạt động trong phạm vi vùng bảo hộ, tiếp nhận và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền.
Quy định này góp phần nâng cao vai trò điều phối, giám sát của chính quyền địa phương, bảo đảm các yêu cầu bảo vệ nguồn nước sinh hoạt được thực hiện thống nhất, hiệu quả trên thực tế.
Đáng chú ý, Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT cũng sửa đổi, bổ sung Điều 29 về quy trình lấy ý kiến đối với kết quả vận hành thử nghiệm bổ sung nhân tạo nước dưới đất. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc vận hành thử nghiệm, tổ chức, cá nhân thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất có trách nhiệm báo cáo kết quả về Sở Nông nghiệp và Môi trường để lấy ý kiến.
Quy trình tiếp nhận và cho ý kiến được quy định rõ ràng về thành phần hồ sơ, hình thức nộp và thời hạn giải quyết, bảo đảm tính minh bạch, chuẩn hóa thủ tục hành chính và tăng cường kiểm soát kỹ thuật, môi trường đối với hoạt động bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
Tăng cường yêu cầu quan trắc phục vụ giám sát khai thác nước dưới đất. Ảnh: Minh Quang.
Tăng cường yêu cầu quan trắc phục vụ giám sát khai thác nước dưới đất. Ảnh: Minh Quang.
Một nội dung quan trọng khác là tăng cường yêu cầu quan trắc phục vụ giám sát khai thác nước dưới đất. Theo quy định mới, các công trình khai thác nước dưới đất thuộc diện phải quan trắc phải bảo đảm vị trí giếng quan trắc có tính đại diện, được thể hiện rõ trong hồ sơ đề nghị cấp phép khai thác tài nguyên nước.
Đồng thời, Thông tư bổ sung yêu cầu đối với các hoạt động khảo sát địa chất, xây dựng công trình ngầm, thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu khí có hạng mục khoan, đào phải thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ nước dưới đất, nhằm hạn chế nguy cơ ô nhiễm, suy giảm nguồn nước trong quá trình thi công và khai thác.
Thống nhất tên gọi, bảo đảm tính kế thừa và ổn định trong thực thi
Bên cạnh các nội dung chuyên môn, Thông tư thống nhất thay thế tên gọi các cơ quan quản lý từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường”, “Sở Tài nguyên và Môi trường” sang “Bộ Nông nghiệp và Môi trường”, “Sở Nông nghiệp và Môi trường”, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới.
Thông tư cũng quy định rõ nguyên tắc chuyển tiếp, theo đó các nhiệm vụ, hồ sơ, kế hoạch kiểm tra và đoàn kiểm tra đã được phê duyệt, thành lập trước ngày Thông tư có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định cũ cho đến khi kết thúc, bảo đảm tính kế thừa, ổn định và không làm gián đoạn hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên nước.
Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|
Ngày 2/2, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp đã kí Văn bản số 07/VBHN-BNNMT về việc Văn bản hợp nhất Nghị định quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực kể từ ngày 17 tháng 01 năm 2026.
Theo đó, Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 31, Điều 52, khoản 4 Điều 53, khoản 6 Điều 69 và Điều 70 của Luật Tài nguyên nước về việc cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; việc nộp, miễn, giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; dịch vụ về tài nguyên nước.
Nghị định gồm 5 Chương và 59 Điều. Cụ thể, Chương I. Quy định chung; Chương II. Kê khai, đăng kí, cáp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Chương III. Hành nghề khoan nước dưới đất và dịch vụ về tài nguyên nước; Chương IV. Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Chương V. Trách nhiệm thực hiện và hiệu lực thi hành.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 46/59 của Nghị định số 54/2024/NĐ- CP thuộc 04 nhóm vấn đề chính, cụ thể như sau:
Nhóm 1: sửa đổi, bổ sung các quy định theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Thực hiện nguyên tắc xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật không quy định những nội dung chi tiết trong Luật, theo đó Luật sửa đổi, bổ sung đã bãi bỏ các quy định về thời hạn của giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, nguyên tắc, điều kiện, căn cứ cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước trong Luật Tài nguyên nước năm 2023. Do đó, Nghị định bổ sung quy định thời hạn của giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, nguyên tắc, điều kiện, căn cứ cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, hành nghề khoan nước dưới đất nhằm phù hợp với Luật sửa đổi bổ sung.
Nhóm 2: Liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên nước Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 5/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Về việc phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo phù hợp với quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Sửa đổi, bổ sung đơn giản hóa các quy định về đăng ký, cấp phép khai thác tài nguyên nước, trong đó bổ sung trường hợp miễn không phải kê khai, đăng ký, cấp phép mà trước đây phải thực hiện việc kê khai, đăng ký, cấp phép (khai thác nước mặt cho mục đích thi công xây dựng công trình đối với hồ chứa, đập dâng, công trình thủy lợi; khai thác nước cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp).
Điều chỉnh giảm các trường hợp phải cấp phép khai thác tài nguyên nước, chuyển thành các trường hợp phải đăng ký đối với các công trình thủy lợi (công trình khai thác nước là hồ, đập thủy lợi cấp cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có dung tích toàn bộ từ 0,01 triệu m3 đến 0,5 triệu m3).
Sửa đổi, đơn giản hóa, cắt giảm về thành phần hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép, cấp lại, trả lại, tạm dừng giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước (bỏ quy định về sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác và kết quả phân tích chất lượng nước trong thành phần hồ sơ).
Cắt giảm thời gian, đơn giản hóa thành phần hồ sơ đối với các thủ tục hành chính theo phương án cắt giảm thủ tục hành chính đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1671/QĐ-TTg. Đồng thời, tiếp tục đơn giản hóa thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính theo phương án đã được phê duyệt (bỏ quy định về sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác và kết quả phân tích chất lượng nước trong thành phần hồ sơ trong các hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn giấy phép khai thác tài nguyên nước).
Sửa đổi, cắt giảm điều kiện, quy mô hành nghề khoan nước dưới đất theo hướng không quy định các quy mô hành nghề khoan nước dưới đất (trước đây quy định hành nghề theo quy mô lớn, nhỏ) để tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức cá nhân đủ điều kiện hành nghề, cũng như phù hợp với chủ trương của Nghị số 68- NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt, điều chỉnh, truy thu và kinh phí thẩm định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhằm đảm bảo phù hợp với Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, Quyết định số 1671/QĐ-TTg và quy định mới của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, rà soát đơn giản hóa các biểu mẫu trong các thủ tục hành chính trong việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, chấp thuận trả lại, tạm dừng, đình chỉ, thu hồi giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước, giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất và kê khai, đăng ký khai thác, sử dụng tài nguyên nước đất.
Nhóm 3: sửa đổi, bổ sung theo quy định phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền để triển khai tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp
Ngoài việc quy định các nội dung phân quyền, phân cấp đã được ban hành tại Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Nghị định tiếp tục phân cấp thêm về địa phương đối với khai thác nước mặt để phát điện (từ 5.000kw đến dưới 30.000kw); công trình ngăn sông, cống ngăn sông, suối, kênh, mương rạch với mục đích ngăn mặn, tạo nguồn, chống ngập, tạo cảnh quan (từ 100m đến dưới 200m).
Đồng thời, thống nhất thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi không quy định quy mô hành nghề khoan nước dưới đất.
Nhóm 4: sửa đổi, cập nhật tên các cơ quan, đơn vị để phù hợp với thực tế do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025, sửa đổi tại 21 Điều liên quan đến việc thay đổi tên và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương sau khi sáp nhập theo chức năng, nhiệm vụ mới.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
File đính kèm:
|
|
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 243/QĐ-BNNMT công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026, làm cơ sở điều hòa, phân phối và quản lý tài nguyên nước trên toàn lưu vực. Kịch bản nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng
Việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026 nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.
Đồng thời, Kịch bản là căn cứ để các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước; các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp theo quy định tại các khoản 1, 5, 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43, các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.
Kịch bản được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố được tính toán, đánh giá cho mùa cạn năm 2026, từ tháng 01 đến hết tháng 7/2026, áp dụng trên toàn bộ các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Srêpốk.
Nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ
Theo Kịch bản được công bố, trong mùa cạn năm 2026, trên toàn lưu vực sông Srêpốk hiện có 188 công trình cấp nước tập trung, trong đó gồm 51 công trình khai thác nước mặt và 137 công trình khai thác nước dưới đất. Tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh – dịch vụ ước đạt khoảng 10,7 triệu m³ trong toàn kỳ mùa cạn.
Tỷ lệ khai thác từ nước dưới đất chiếm khoảng 76%, trong khi khai thác từ nước mặt chiếm 24%, phản ánh mức độ phụ thuộc tương đối lớn của nhiều khu vực trên lưu vực vào nguồn nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng cao, vùng chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống cấp nước tập trung.
Bên cạnh các công trình tập trung, trên lưu vực còn tồn tại nhiều công trình cấp nước tự chảy, giếng khoan hộ gia đình và các điểm khai thác nhỏ lẻ, phân tán, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ. Hệ thống này góp phần đa dạng hóa nguồn cung, song cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát để hạn chế nguy cơ suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước, nhất là đối với các tầng chứa nước dưới đất.
Nông nghiệp tiếp tục là ngành sử dụng nước lớn nhất
Kịch bản xác định, nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất trên lưu vực sông Srêpốk, với tổng nhu cầu nước trong mùa cạn năm 2026 ước đạt khoảng 1.419 triệu m³.
Trong tổng nhu cầu này, hệ thống các công trình thủy lợi hiện có cung cấp khoảng 485 triệu m³, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới cho lúa, 41% cho cây hàng năm khác và 17% cho cây lâu năm. Phần diện tích còn lại, đặc biệt là các vùng trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước mưa, các công trình khai thác nước dưới đất và các công trình nước mặt nhỏ lẻ.
Thực tế này cho thấy sản xuất nông nghiệp trên lưu vực vẫn chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết, khả năng tích trữ và điều tiết nước của hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi, nhất là trong điều kiện mùa khô kéo dài và lượng mưa phân bố không đều.
Nhu cầu nước cho phát điện và vai trò của các hồ chứa lớn
Trên lưu vực sông Srêpốk hiện có nhiều công trình thủy điện quan trọng, vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.
Theo Kịch bản, trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 7/2026, sản lượng điện dự kiến của các nhà máy thủy điện thuộc quy trình liên hồ đạt khoảng 1,22 triệu kWh, thấp hơn khoảng 31% so với năm 2025 và thấp hơn khoảng 19% so với mức trung bình nhiều năm. Tương ứng, nhu cầu nước phục vụ phát điện ước đạt khoảng 16,1 tỷ m³, giảm 14,4% so với năm 2025 và giảm 3,5% so với trung bình thời kỳ.
Riêng hồ Buôn Tua Srah, trong mùa cạn năm 2026, sản lượng điện dự kiến đạt khoảng 145,3 triệu kWh, với nhu cầu nước khoảng 1,3 tỷ m³, giảm 13,3% so với năm 2025 và giảm 7,9% so với trung bình nhiều năm.
Các số liệu trên cho thấy áp lực phát điện trong mùa cạn năm 2026 có xu hướng giảm so với những năm trước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác điều tiết, phân phối nước phục vụ các mục tiêu cấp nước cho hạ du, sản xuất nông nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường.
Trạng thái nguồn nước: Cơ bản ở “trạng thái bình thường”
Trên cơ sở tổng hợp các thông tin về hiện trạng nguồn nước, dự báo khí tượng – thủy văn, diễn biến dòng chảy đến các hồ chứa lớn, tình hình nguồn nước mặt và nước dưới đất tại các tiểu vùng, Kịch bản nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Srêpốk trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”.
Đối với bốn hồ chứa lớn gồm Buôn Tua Srah, Krông Búk Hạ, Srêpốk 3 và Srêpốk 4, dự báo cho thấy tổng lượng nước đến hồ trong mùa cạn năm 2026 có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước cho phát điện, tưới tiêu nông nghiệp tại địa phương và duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ.
Cụ thể, tại hồ Buôn Tua Srah và Krông Búk Hạ, trong cả hai kịch bản vận hành (sản lượng phát điện thấp hơn năm 2025 hoặc tương đương trung bình nhiều năm), nhu cầu nước cho phát điện và tưới tiêu đều được đánh giá là phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước đến hồ.
Đối với hồ Srêpốk 3 và Srêpốk 4, sản lượng điện và nhu cầu nước cho phát điện dự kiến thấp hơn trung bình nhiều năm, trong khi dòng chảy đến hồ có xu hướng cao hơn khoảng 10–15%, tạo dư địa nhất định cho việc điều tiết nước phục vụ hạ du.
Nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số tiểu vùng
Mặc dù tổng thể nguồn nước được đánh giá ở trạng thái bình thường, Kịch bản cũng chỉ rõ, do đặc điểm địa hình dốc, mạng lưới sông suối nhỏ, khả năng trữ nước hạn chế, cùng với đặc trưng mùa khô kéo dài, lượng mưa thấp và bốc hơi lớn, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số khu vực, đặc biệt là các vùng ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa, các khu vực có công trình thủy lợi quy mô nhỏ, chưa được đầu tư đồng bộ.
Tiểu vùng Ia Đrăng và Ia Lốp: Có khoảng 15 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 216,9 triệu m³. Đến đầu tháng 01/2026, phần lớn các hồ đã tích gần đầy và cơ bản đáp ứng nhu cầu trong phạm vi cấp nước. Tuy nhiên, hồ Ia Ring gặp sự cố thấm thân đập từ cuối năm 2024, chỉ tích được khoảng 57% dung tích, tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước tưới tại một số xã thuộc tỉnh Gia Lai.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Ea Hleo: Khoảng 97 hồ chứa, tổng dung tích hơn 223 triệu m³, nguồn nước trong phạm vi cấp nước của các hồ được đánh giá là bảo đảm. Tuy nhiên, các khu vực ngoài hệ thống vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ, đặc biệt trong các tháng cao điểm nắng nóng.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Ana: Hệ thống 365 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 140 triệu m³ cơ bản đáp ứng nhu cầu, song các khu vực phụ thuộc nhiều vào nước mưa và công trình nhỏ lẻ vẫn có khả năng xảy ra thiếu nước trong mùa khô.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Nô: Khoảng 110 hồ chứa với tổng dung tích hơn 74 triệu m³ cơ bản đủ khả năng cấp nước trong phạm vi, nhưng các xã vùng cao, vùng xa trung tâm vẫn tiềm ẩn rủi ro thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.
Tiểu vùng Thượng và Hạ Srêpốk: Hệ thống gần 200 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 174 triệu m³ nhìn chung bảo đảm nguồn nước, song một số khu vực đô thị và nông thôn vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ do nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi.
Định hướng giải pháp và phân công nhiệm vụ
Về tổng thể, nguồn nước trên các tiểu vùng và các tầng chứa nước cơ bản ở trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai thác bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các tháng cao điểm nắng nóng (từ tháng 3 đến tháng 5), nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể gia tăng nếu việc khai thác, sử dụng không hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước trong mùa cạn năm 2026, đặc biệt trong các tháng dự báo xảy ra nắng nóng diện rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực sông Srêpốk chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.
Bộ Công Thương được giao chỉ đạo việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch vận hành các hồ chứa thủy điện phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm ưu tiên cấp nước cho hạ du đến cuối mùa cạn, đồng thời cân đối hài hòa giữa mục tiêu phát điện và cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất.
Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục rà soát, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, mở rộng phạm vi cấp nước, cải thiện năng lực tích trữ và điều tiết nước, đồng thời tăng cường giám sát việc khai thác nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng trồng cây công nghiệp.
Kịch bản cũng khuyến nghị phát triển các mô hình tích trữ nước mưa, ao hồ nhỏ, công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực thường xuyên hạn hán nhằm giảm áp lực lên nguồn nước.
Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật KBNN trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai KBNN đã công bố.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hoà, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.
Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.
Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với KBNN; Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ cho các địa phương trên các LVS, nhất là các vùng, khu vực được cảnh báo có nguy cơ thiếu nước.
Cục Khí tượng thủy văn theo dõi, cập nhật bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; tăng cường dự báo, cảnh báo cho các khu vực, vùng có nguy cơ xảy ra thiếu nước đã được nhận định trong KBNN.
Văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để cung cấp, thông báo kịp thời các thông tin về vận hành, xả nước của hồ Srêpôk 4 cho phía Campuchia theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.
Tăng cường bảo vệ và phục hồi nước dưới đất
Đvới công tác bảo vệ nước dưới đất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, phê duyệt và triển khai kế hoạch bảo vệ theo quy định pháp luật; cập nhật danh mục các vùng hạn chế khai thác; khoanh định, đánh giá các khu vực có tiềm năng bổ cập nhân tạo; nghiên cứu, áp dụng các mô hình bổ sung nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước, nhất là tại các khu vực phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất.
Việc khai thác nước dưới đất cần được giám sát chặt chẽ, hạn chế tình trạng khai thác quá mức, sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ không bảo đảm kỹ thuật, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước.
File đính kèm:
Nguồn: DWRM
|
|
Trước biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan gia tăng, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước là trụ cột bảo đảm an ninh nguồn nước và an sinh xã hội .
Nghệ An mở đợt cao điểm bảo vệ an ninh nguồn nước
Chuyển từ ‘xử lý sự cố’ sang ‘quản trị chủ động’ vì an ninh nguồn nước
Giữ an ninh nguồn nước - Nhiệm vụ sống còn vì phát triển bền vững
Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam về vai trò, định hướng và những giải pháp trọng tâm của lĩnh vực thủy lợi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
TS Đào Xuân Học trao đổi về vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới. Ảnh: Hà Trang
TS Đào Xuân Học trao đổi về vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới. Ảnh: Hà Trang
Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, thiên tai diễn biến bất thường, theo ông, năng lực ứng phó của ngành nông nghiệp và môi trường, đặc biệt là lĩnh vực thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, đã có những chuyển biến nổi bật nào? Những chuyển biến đó có ý nghĩa ra sao đối với ổn định kinh tế - xã hội và đời sống người dân?
- Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã làm cho thời tiết chuyển sang trạng thái cực đoan rõ rệt, với nhiều hiện tượng vượt ngưỡng lịch sử: mưa lớn bất thường, lũ lên nhanh và cao hơn trước, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn sâu, thiếu nước cục bộ ở nhiều vùng. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn tính mạng, tài sản của người dân.
Thiệt hại do thiên tai những năm vừa qua là rất lớn, điều đó cần nhìn thẳng và đánh giá đúng. Tuy nhiên, nếu so với các giai đoạn trước, có thể thấy rõ năng lực ứng phó của chúng ta đã được nâng lên đáng kể. Thực tế đã có những đợt lũ với mực nước cao hơn lịch sử, nước tràn qua đê nhưng đê vẫn giữ được an toàn, không bị vỡ. Đây không phải là may mắn ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình đầu tư bền bỉ của Nhà nước cho hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, cũng như công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên.
Quan trọng hơn, đó là sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường. Khi thiên tai ngày càng “khốc liệt” hơn, chỉ cần một khâu lỏng lẻo cũng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc hệ thống vẫn đứng vững cho thấy năng lực tổ chức, điều hành và con người đã có bước tiến rõ rệt, góp phần giữ vững ổn định kinh tế - xã hội, giảm thiểu tổn thất và bảo vệ đời sống nhân dân.
Một điểm đáng trân trọng nữa là truyền thống khắc phục hậu quả thiên tai rất nhanh của Việt Nam. Ở bất kỳ giai đoạn nào, sau thiên tai, với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của Nhà nước, chính quyền các cấp và tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng, nhiều địa phương đã nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống. Tuy nhiên, phòng tránh thiên tai không thể chỉ mạnh ở khâu “sau thiên tai”. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó chủ động ngay từ trước và trong quá trình thiên tai xảy ra.
Hướng tới Đại hội XIV của Đảng, mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người được đặt lên hàng đầu. Theo ông, vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước cần được nhìn nhận như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước?
- Nếu nhìn lại lịch sử phát triển của dân tộc, có thể thấy đê điều và thủy lợi luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Từ thời dựng nước đến nay, chưa có giai đoạn nào chúng ta không bàn đến chuyện làm đê, trị thủy. Nước gắn trực tiếp với sản xuất, với an sinh xã hội và sự ổn định của quốc gia. Khi đê điều vững chắc, sản xuất thuận lợi; ngược lại, vỡ đê, mất nước hay lũ lớn đều kéo theo những tổn thất rất nặng nề.
Trong bối cảnh hiện nay, khi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan trở thành “trạng thái bình thường mới”, vai trò đó càng trở nên nổi bật. Phần lớn các loại thiên tai ở Việt Nam đều liên quan đến nước, từ lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đến sạt lở. Vì vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước phải được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới, đặc biệt là bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và sinh kế bền vững cho người dân.
Việc Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất quản lý nhà nước về nước là một bước đột phá rất quan trọng, tạo tiền đề cho điều hành đồng bộ, tránh phân tán. Tuy nhiên, đây mới chỉ là khởi đầu. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, phương thức quản lý theo hướng tiếp cận tổng thể lưu vực, từ thượng nguồn đến hạ du, từ lòng sông đến hệ thống đê điều, hồ chứa. Có như vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước mới thực sự phát huy vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Vậy theo ông, yếu tố nào mang tính quyết định để thủy lợi và quản lý tài nguyên nước thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới?
- Theo tôi, xét ở tầm quốc gia nói chung và đối với lĩnh vực thủy lợi, quản lý nước nói riêng, có ba yếu tố mang tính quyết định.
Thứ nhất là thể chế và tổ chức bộ máy. Đây là yếu tố then chốt trong giai đoạn hiện nay. Việc quản lý nước đã được đưa về một mối là rất đúng đắn, nhưng nếu trong thực thi vẫn tồn tại tư duy cục bộ, chia cắt giữa các lĩnh vực, thì hiệu quả sẽ không cao. Hiện nay, trong công tác quy hoạch thủy lợi, tình trạng nhiều đơn vị cùng quản lý một con sông nhưng vận hành song hành theo hai “đường ray” khác nhau không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong công tác quản trị. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý.
Thứ hai là nguồn nhân lực. Công trình dù hiện đại đến đâu cũng cần con người vận hành, kiểm tra, duy tu. Đội ngũ làm công tác thủy lợi, quản lý nước và phòng chống thiên tai phải có trình độ chuyên môn vững, kỹ năng thực hành tốt và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao. Trong bối cảnh yêu cầu nhiệm vụ ngày càng lớn, việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là yêu cầu không thể trì hoãn.
Thứ ba là hạ tầng kỹ thuật. Nhiều hồ chứa, đập đất, hệ thống đê điều của chúng ta được xây dựng từ vài chục năm trước, trong khi điều kiện mưa lũ hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Do đó, cần tổng rà soát, đánh giá lại mức độ an toàn, khả năng thoát lũ, nhất là ở các vùng hạ du đang chịu áp lực lớn từ đô thị hóa và phát triển hạ tầng.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, đầu tư hạ tầng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng thể chế thông suốt và con người đủ năng lực. Khi ba yếu tố này được kết hợp hài hòa, chúng ta mới có thể triển khai thành công một chiến lược tổng thể về thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra, bảo đảm an ninh nguồn nước, an sinh xã hội và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Xin cảm ơn ông!
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|