Tin trong nước

Ngành thủy sản thay đổi cách tiếp cận nguồn nước từ quy định mới

Các quy định chặt chẽ về phân vùng chức năng nguồn nước, xác định dòng chảy tối thiểu và bảo vệ nước ngầm sẽ tác động đa chiều và sâu sắc đến ngành thủy sản.

Văn bản 41/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước mà Bộ NN-MT vừa ban hành có nhiều quy định liên quan đến ngành thủy sản, một ngành kinh tế mũi nhọn sử dụng và tác động nhiều đến tài nguyên nước. Ngành thủy sản sẽ phải đầu tư, chuyển đổi và thích ứng với những quy định về tài chính, kỹ thuật mới song về lâu dài, ngành thủy sản sẽ hướng đến mô hình phát triển bền vững, nâng cao vị thế, củng cố thương hiệu trên trường quốc tế.

Thông tư đưa ra nhiều quy định quan trọng về phân vùng chức năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu, bảo hộ vệ sinh nguồn nước sinh hoạt và kế hoạch bảo vệ nước ngầm. Ảnh: Minh Hoàng.Thông tư đưa ra nhiều quy định quan trọng về phân vùng chức năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu, bảo hộ vệ sinh nguồn nước sinh hoạt và kế hoạch bảo vệ nước ngầm. Ảnh: Minh Hoàng.

Phân vùng chức năng nguồn nước: Cơ sở cho quản lý hiệu quả

Điểm nổi bật nhất của Thông tư là quy định phân vùng chức năng nguồn nước mặt. Theo đó, từng khu vực nguồn nước được xác định rõ mục đích sử dụng: sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, du lịch hay bảo tồn. Đây là một thay đổi mang tính nền tảng, bởi trước đây, việc khai thác nguồn nước diễn ra rời rạc, nhiều địa phương để tình trạng phát triển tự phát, dẫn đến ô nhiễm và xung đột giữa các ngành.

Đối với ngành nuôi trồng thủy sản – lĩnh vực phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và nguồn cung nước, quy định phân vùng chức năng nguồn nước mở ra hướng phát triển theo chiều sâu, thay vì mở rộng diện tích một cách ồ ạt như trước.

Trước hết, việc xác định rõ ràng vùng nuôi trong quy hoạch tạo cơ sở pháp lý ổn định, giúp người dân và doanh nghiệp an tâm đầu tư dài hạn, áp dụng công nghệ tiên tiến mà không lo rủi ro từ việc thay đổi mục đích sử dụng nước đột ngột.

Bên cạnh đó, tại những khu vực ưu tiên cho sinh hoạt hoặc bảo tồn, hoạt động nuôi trồng buộc phải điều chỉnh hoặc thu hẹp, qua đó loại bỏ dần các vùng nuôi kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Nhờ vậy, nguồn nước được bảo vệ tốt hơn, đồng thời ngành thủy sản cũng có điều kiện tái cấu trúc, hướng tới mô hình sản xuất bền vững và an toàn.

Việc quy hoạch vùng nuôi chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Song song với đó, các quy định về duy trì dòng chảy tối thiểu và kiểm soát khai thác nước ngầm góp phần bảo đảm chất lượng nước ổn định, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong ao nuôi, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Việc quy hoạch vùng nuôi thủy sản chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Ảnh: Minh Khang.Việc quy hoạch vùng nuôi thủy sản chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Ảnh: Minh Khang.

Việc quy hoạch vùng nuôi thủy sản chặt chẽ giúp ngăn chặn tình trạng phát triển tự phát, tránh gây áp lực quá mức lên nguồn nước. Ảnh: Minh Khang.

Ở tầm vĩ mô, những quy định mới còn đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng lợi ích giữa các ngành sử dụng nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn ngày càng gay gắt, việc phân bổ công bằng, minh bạch nguồn nước dựa trên cơ sở pháp luật sẽ giúp hạn chế xung đột, củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp. Qua đó, ngành thủy sản không chỉ được đảm bảo nguồn lực phát triển, mà còn trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược quản lý và khai thác bền vững tài nguyên nước quốc gia.

 Bảo vệ hạ lưu từ quy định duy trì dòng chảy tối thiểu

Một nội dung quan trọng khác là việc xác định dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối. Đây là mức dòng chảy cần thiết để duy trì hệ sinh thái thủy sinh, cân bằng môi trường, đồng thời đảm bảo nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.

Thực tế, nhiều con sông ở miền Trung và Tây Nguyên từng cạn kiệt do khai thác quá mức ở thượng nguồn, khiến vùng hạ lưu thiếu nước tưới, nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Với quy định mới, các dự án thủy điện, hồ chứa, khai thác công nghiệp bắt buộc phải duy trì dòng chảy tối thiểu, không được "giữ nước" một cách tuyệt đối. Điều này giúp các vùng nuôi thủy sản ở đồng bằng có nguồn nước ổn định, giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh và ô nhiễm.

Dòng chảy tối thiểu cũng là yếu tố quan trọng trong thích ứng biến đổi khí hậu, nhất là tại các vùng thường xuyên chịu hạn hán, xâm nhập mặn. Khi hệ thống sông ngòi duy trì được dòng chảy cơ bản, khả năng tự làm sạch của nước tăng lên, giảm ô nhiễm và tạo điều kiện phục hồi cho hệ sinh thái.

Ngoài phân vùng và dòng chảy, Thông tư còn nhấn mạnh đến việc bảo vệ và quản lý khai thác nước ngầm. Đây là nguồn tài nguyên quý giá, đặc biệt quan trọng đối với các tỉnh ven biển và đồng bằng, nơi thường xuyên bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất và suy thoái tầng chứa nước ngầm do khai thác quá mức. Ảnh: Minh Hoàng.Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất và suy thoái tầng chứa nước ngầm do khai thác quá mức. Ảnh: Minh Hoàng.

Hiện nay, nhiều khu vực ven biển miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất và suy thoái tầng chứa nước ngầm do khai thác quá mức. Tình trạng này không chỉ gây thiệt hại về hạ tầng mà còn trực tiếp đe dọa sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhất là các mô hình nuôi tôm, cá tra – những đối tượng cần lượng nước ngọt lớn để duy trì chất lượng ao nuôi.

Việc đưa ra các quy định chặt chẽ về bảo vệ nước ngầm giúp giảm khai thác tự phát, tăng cường giám sát và đưa hoạt động này vào quy hoạch tổng thể. Đây là nền tảng quan trọng để đảm bảo an ninh nguồn nước.

Văn bản 41/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước quy định chi tiết thi hành khoản 4 Điều 22, khoản 9 Điều 24, điểm b khoản 2 Điều 26, khoản 8 Điều 31, khoản 3 Điều 39 của Luật Tài nguyên nước về phân vùng chức năng nguồn nước mặt; xác định, điều chỉnh dòng chảy tối thiểu; xác định và tổ chức việc công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; bảo vệ nước dưới đất trong các hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 31 của Luật Tài nguyên nước; lập, điều chỉnh kế hoạch bảo vệ nước dưới đất; bổ sung nhân tạo nước dưới đất.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

 

 

Ngành thủy sản thay đổi cách tiếp cận nguồn nước từ quy định mới

 

Quản lý khai thác nước ngầm theo kịch bản nguồn nước

HÀ NỘI UBND thành phố Hà Nội vừa xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo Kịch bản nguồn nước.

Hà Nội phấn đấu kiểm soát 90% hoạt động khai thác, sử dụng nước

Hà Nội xây dựng Bộ chỉ số phục vụ điều hành thời gian thực

Hà Nội triển khai xây dựng đô thị thông minh

Hà Nội quyết làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai trước 15/11

UBND thành phố Hà Nội  vừa ban hành Công văn số 5054/UBND-NNMT, yêu cầu xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình.

UBND thành phố Hà Nội vừa xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo kịch bản nguồn nước. Ảnh: Nguyễn Hà.UBND thành phố Hà Nội vừa xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo kịch bản nguồn nước. Ảnh: Nguyễn Hà.

Theo chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nhiệm vụ cập nhật, đăng tải thường xuyên các quyết định công bố kịch bản nguồn nước lên Cổng thông tin điện tử của Sở, đồng thời xây dựng kế hoạch khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản phù hợp với các Kịch bản nguồn nước đã được phê duyệt.

Công văn cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp chặt chẽ với UBND các phường, xã trong việc kiểm soát khai thác nước dưới đất. Việc này nhằm hạn chế nguy cơ hạ thấp mực nước ngầm, sụt lún nền đất và xâm nhập mặn. Cùng với đó, các đơn vị liên quan phải tăng cường rà soát việc đăng ký, kê khai và cấp phép khai thác tài nguyên nước theo đúng quy định pháp luật.

Sở Xây dựng được giao xây dựng kế hoạch khai thác tài nguyên nước phục vụ sản xuất và cấp nước sinh hoạt, đảm bảo đồng bộ với các kịch bản nguồn nước hiện hành.

Đáng chú ý, UBND các địa phương cơ sở sẽ chịu trách nhiệm kiểm soát nghiêm ngặt hoạt động khai thác nước dưới đất tại các khu vực cấm hoặc hạn chế, theo đúng quy định tại Nghị định số 53/2024/NĐ-CP và Nghị định số 54/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Các trường hợp chưa kê khai, đăng ký khai thác sẽ bị đôn đốc xử lý, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về tài nguyên nước và hành nghề khoan nước dưới đất.

Song song với công tác triển khai tại cơ sở, Thành phố cũng yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức tiết kiệm nước, sử dụng hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này.

Cùng với đó, Trung tâm Truyền thông, Dữ liệu và Công nghệ số Thành phố được giao nhiệm vụ cập nhật liên tục kịch bản nguồn nước lên Cổng thông tin điện tử của thành phố, đảm bảo thông tin luôn được công khai minh bạch theo đúng quy định tại khoản 6 Điều 41 Nghị định 53/2024/NĐ-CP.

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/

Quản lý khai thác nước ngầm theo kịch bản nguồn nước

 

Nỗi lo công trình thủy lợi mùa bão: Nhiều hồ chứa rệu rã

Hiện vùng Đông Gia Lai (Bình Định cũ) còn 12 hồ chứa đã xuống cấp, nguy cơ mất an toàn; đây là nỗi lo lớn của ngành chức năng khi mùa mưa lũ cận kề…

Quảng Trị khẩn trương sơ tán dân, bảo vệ mùa màng và an toàn hồ đập

Trực 24/24 tại các công trình thủy lợi mùa mưa bão

Hồ, đập lớn trước mùa mưa lũ: Giữ 'xanh' nguồn nước từ đập Bái Thượng

Nhiều hồ chứa tiềm ẩn nguy cơ

Theo ông  Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai mới có 283 hồ chứa lớn nhỏ; trong đó, có 87 hồ chứa có quy mô lớn, 49 hồ vừa và 147 hồ nhỏ. Riêng vùng Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ) có 164 hồ chứa; trong đó, có 62 hồ có quy mô lớn, 37 hồ vừa và 65 hồ nhỏ; có 36 hồ chứa có cửa van và 128 hồ có tràn tự do.

Qua công tác kiểm tra an toàn hồ đập trước mùa bão lũ năm 2025, ngành chức năng Gia Lai phát hiện trên địa bàn còn nhiều hồ chứa vừa và nhỏ do xây dựng cách đây đã hơn 40 năm, từ đó đến nay các đập đất chưa được gia cố mái thượng lưu, nền và thân đập bị thấm, kích thước mặt cắt ngang không đảm bảo do bị sạt trượt, không có vật thoát nước hạ lưu đập.

Thêm vào đó, tràn xả lũ chủ yếu là tràn tự nhiên nên bị xói lở phía hạ lưu; một số tràn làm bằng bê tông hoặc đá xây do “tuổi tác” đã cao nên hiện cũng đã hư hỏng, bong tróc vữa xây các tường cánh, bể tiêu và mái kênh xả sau tràn bị xói lở.

Hiện ở vùng Đông Gia Lai còn 12 hồ chứa nhỏ xuống cấp, nguy cơ mất an toàn; trong đó, có 11 hồ phải hạn chế tích nước và 1 hồ không được tích nước. Ảnh:V.Đ.T.Hiện ở vùng Đông Gia Lai còn 12 hồ chứa nhỏ xuống cấp, nguy cơ mất an toàn; trong đó, có 11 hồ phải hạn chế tích nước và 1 hồ không được tích nước. Ảnh:V.Đ.T.

Cống lấy nước loại cống nút chai bị hư hỏng, rò rỉ dọc thân cống, khó vận hành; đối với các cống có van đóng mở qua nhiều năm sử dụng giờ cũng thường bị kẹt, rò rỉ nước. Đường quản lý vận hành hồ kết hợp cứu nạn, cứu hộ hầu hết là đường đất, nhỏ hẹp, khó đi lại, thường bị chia cắt khi có mưa lũ. Nhà quản lý công trình đầu mối hầu hết còn thiếu hoặc được xây dựng từ lâu hiện đã bị xuống cấp, hư hỏng; không có trang thiết bị phục vụ quản lý, nếu có chủ yếu là thủ công, chưa đáp ứng công tác quản lý, bảo vệ công trình.

“Trong 164 hồ chứa ở vùng phía Đông Gia Lai, trong đó có 62 hồ chứa lớn và 1 hồ chứa vừa do Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) Bình Định quản lý, vận hành; Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh quản lý 2 hồ chứa nhỏ; các địa phương quản lý 99 hồ, trong đó, có 36 hồ chứa vừa và 63 hồ chứa nhỏ”, ông Vũ Ngọc An cho hay.

Hồ  chứa nhỏ, nỗi lo lớn

Kết quả kiểm tra an toàn hồ đập của ngành chức năng tỉnh Gia Lai cho thấy, trong 63 hồ chứa do Công ty TNHH KTCTTK Bình Định quản lý; trong đó, có 32 hồ được đánh giá an toàn mức A, 31 hồ được đánh giá an toàn mức B. Hai hồ chứa nhỏ do Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh quản lý được đánh giá an toàn mức B. Trong 99 hồ do các địa phương quản lý có 28 hồ được đánh giá an toàn mức A, 61 hồ được đánh giá an toàn mức B; đặc biệt, trong đó có 12 hồ chứa  nhỏ được đánh giá nguy cơ mất an toàn cao; phải  hạn chết tích nước 11 hồ, 1 hồ không được tích nước là hồ Bàu Sen ở xã Bình Phú.

“Trong 12 hồ có nguy cơ mất an toàn cao, hiện có 2 hồ Hóc Quăn và Thuận An đã được bố trí vốn sửa chữa, nâng cấp; 10 hồ còn lại là các hồ: Lòng Bong, Nam Hương, Bàu Dài, Bàu Sen, Hòa Mỹ, Hóc Bông, Hóc  Sanh, Thủy Dé, Hóc Huy… chưa được bố trí kinh phí; riêng hồ Bàu Sen hiện do xuống cấp nghiêm trọng, không được tích nước hiện ngành chức năng Gia Lai đang đề xuất nguồn vốn sửa chữa từ quỹ phòng chống thiên tai của tỉnh”, ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho hay.

Giai đoạn 2021-2025, vùng Đông Gia Lai đã có nhiều nỗ lực nâng cấp, sửa chữa 12 hồ  chứa nước. Ảnh: V.Đ.T.Giai đoạn 2021-2025, vùng Đông Gia Lai đã có nhiều nỗ lực nâng cấp, sửa chữa 12 hồ  chứa nước. Ảnh: V.Đ.T.

Cũng theo ông An, trong 63 hồ chứa do Công ty TNHH KTCTTL Bình Định quản lý có 38 hồ có đập bị thấm; trong đó thấm nặng 6 hồ, gồm: Hồ Thạch Khê bị thấm nền chân đập, hồ Hóc Mít bị thấm nền, hồ Cây Sung bị thấm vai phải cống lấy nước, hồ Tân Thắng bị thấm mái đập, hồ Hòn Lập bị thấm vai phải và giữa đập; 2 hồ bị biến dạng mái đập do sạt lở, trượt mái thượng và hạ lưu là hồ Phú Hà và hồ Tam Sơn; 3 hồ bị xói lở thân tràn, đuôi tràn và bể tiêu năng là các hồ An Đỗ, Hóc Cau và Văn Khánh Đức.

Các hồ do địa phương quản lý nhiều đập bị thấm, nhiều nhất là tại huyện Phù Mỹ cũ với 16 hồ; trong đó thấm nặng là 2 hồ Bàu Bạn và Thuận An; 10 hồ bị hư hỏng thân cống; huyện Tây Sơn cũ cũng có 13 hồ có đập bị thấm, trong đó có 7 hồ bị thấm nặng là Bàu Sen, Hóc Bông, Nam Hương, Hòa Mỹ, Truông Ổi, Bàu Làng, Bàu Năng…, hều hết trà xả lũ chưa được gia cố kiên cố.

“Giai đoạn 2021-2025, vùng Đông Gia Lai (tỉnh Bình Định cũ) đã có nhiều nỗ lực nâng cấp, sửa chữa nhiều công trình hồ chứa; trong đó có các hồ Cây Điều, Hóc Hảo, Đồng Quang, Đá Bàn, Nhà Hố, Giàn Tranh, Chánh Hùng, Đá Vàng, Cây Thích, Suối Cầu, Hải Nam, Hóc Thánh, 12 hồ chứa nói trên cùng khởi công vào tháng 9/2023 và đã hoàn thành trong tháng 5/2025”, ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho hay.

Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn

Nỗi lo công trình thủy lợi mùa bão: Nhiều hồ chứa rệu rã

 

Thủy lợi kiến quốc: Đánh thức châu thổ sông Hồng

 

Dưới thời đại Hồ Chí Minh, thủy lợi Việt Nam được đặc biệt quan tâm đầu tư, tạo thành mạng lưới 'mạch máu' nuôi dưỡng những cánh đồng, mang lại ấm no cho nhân dân.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển thủy lợi

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển thủy lợi phục vụ nông nghiệp luôn có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội và đời sống của người nông dân. 

Người từng nhấn mạnh: “Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”. Suốt 80 năm qua, công tác phát triển thủy lợi luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chăm lo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường đại thủy nông Bắc Hưng Hải ngày (25/12/1958). Ảnh: hochiminh.vn Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường đại thủy nông Bắc Hưng Hải ngày (25/12/1958). Ảnh: hochiminh.vn 

Ngay khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc phục hồi và phát triển nền nông nghiệp nước nhà, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là công tácthủy lợi.

Ngày 29/2/1948, Người chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ bàn và ra nghị quyết một số việc, trong đó có việc thủy nông, sửa chữa và vét máng nước, làm thêm đê đập và máng nước cho tỉnh Phú Thọ, Thái Bình, tiếp tục đặt bơm nước ở Đô Lương, nghiên cứu và đặt ống nước bằng nứa ở Việt Bắc để làm vụ chiêm năm 1948.

 Tháng 2/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ thành lập Hội đồng thủy nông để giúp việc đê điều và các công tác thủy nông.

 Đầu năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm công trường Máng số 7, một công trình thủy lợi lớn của tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Nói chuyện với gần 2.000 cán bộ và dân công trên công trường, Người nói: “Ta có ruộng, phải biến ruộng đó thành thóc gạo. Muốn có thóc gạo phải cấy lúa, muốn lúa tốt phải có đủ nước, nhiều phân, giống tốt. Vì vậy, ta phải làm thủy lợi, phải cố gắng để chủ động trong tưới tiêu.

Bắc Hưng Hải - "Con rồng vàng" đánh thức vùng đồng bằng rộng lớn

Để giải quyết tình trạng “mười năm chín hạn”, “sống ngâm da, chết ngâm xương” cho các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Đảng, Nhà nước quyết định xây dựng đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Đây là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm, đê điều nhằm phục vụ việc tưới tiêu và thoát úng cho một vùng tứ giác nước được giới hạn bởi sông Hồng ở phía Tây, sông Đuống ở phía Bắc, sông Thái Bình ở phía Đông, và sông Luộc ở phía Nam. Mỗi tỉnh/thành Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đều có một phần địa bàn của mình trong tứ giác này.

Cống Xuân Quan lấy nước từ sông Hồng vào hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ ý Đảng, lòng dân. Ảnh: Quang Dũng.Cống Xuân Quan lấy nước từ sông Hồng vào hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ ý Đảng, lòng dân. Ảnh: Quang Dũng.

Tổng chiều dài của hệ thống kênh chính là 200 km. Nước tưới được lấy từ sông Hồng chủ yếu qua cống Xuân Quan. Nước tiêu chủ yếu qua các cống Cầu Xe, An Thổ. Ngoài ra còn có một số trạm bơm kết hợp tưới -  tiêu trực tiếp với các sông lớn tại những vùng hẹp ven các sông Đuống, Luộc, Thái Bình.

Ngày 1/10/1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bổ nhát cuốc đầu tiên tại công trường thi công cống Xuân Quan (Hưng Yên), mở đầu việc xây dựng công trình đại thủy nôngBắc Hưng Hải. Chỉ sau 7 tháng thi công, ngày 1/5/1959 công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải đã hoàn thành ngoài mong đợi với khối lượng công việc khổng lồ: Xây đúc 7.500m3 bê tông, xây lát đá 226.000m3, đào gần 3.000.000 m3 đất. Công trình bảo đảm cung cấp nước tưới cho hơn chục nghìn ha lúa, hoa màu, cây công nghiệp và tiêu úng cho gần 20.000 ha lưu vực.

Trong quá trình chuẩn bị và xây dựng hệ thống thủy lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 4 lần trực tiếp đến kiểm tra, thăm hỏi, động viên cán bộ và dân công làm việc trên công trường. Có lần, mặc dù trời mưa nặng hạt, đường lầy lội, Bác vẫn đến thăm anh em dân công đang đào kênh dẫn nước phía ngoài cống Xuân Quan.

Nói chuyện với khoảng 3 vạn dân công, công nhân, cán bộ trên công trường, Người nhấn mạnh: “Việc xây dựng công trình đại thủy lợi Bắc Hưng Hải là một chiến dịch. Trong chiến dịch này, ta phải có tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Các đảng viên, đoàn viên, thanh niên, công nhân, cán bộ phải làm gương mẫu. Phải cố gắng làm thế nào đảm bảo có đủ nước cho vụ chiêm sắp tới được thắng lợi, đem lại no ấm cho đồng bào”. Thực tế, mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

Ông Trịnh Thế Trường - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải chia sẻ: “Việc xây dựng hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là mục tiêu quốc gia, qua đó đáp ứng yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp”.

 

Ông Trịnh Thế Trường (giữa) và ông Nguyễn Văn Kình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên chia sẻ với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường về ý nghĩa, tầm quan trọng của hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Ảnh: Quang Dũng.Ông Trịnh Thế Trường (giữa) và ông Nguyễn Văn Kình - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên chia sẻ với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường về ý nghĩa, tầm quan trọng của hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải. Ảnh: Quang Dũng.

Không chỉ đối mặt với hạn hán, người dân trong vùng “tứ giác” Bắc Hưng Hải thời điểm ấy còn thường xuyên hứng chịu cảnh “chiêm khê mùa thối”, canh tác hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Vào vụ xuân thì không có nước để cày cấy, thậm chí khi cấy lúa xong rồi vẫn phải “lạy trời cho mưa”. Năm 1995, năng suất lúa bình quân chỉ đạt khoảng 1,3 tấn/ha, rất thấp.

Và, điều đáng mừng là khi hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được đưa vào sử dụng, nước chảy đến đâu bà con mở mang diện tích trồng trọt đến đó, năng suất, sản lượng lúa không ngừng tăng lên. Đến nay, năng suất lúa bình quân trong vùng phục vụ của hệ thống đạt hơn 60 tạ ha/năm. Nhiều người ví Bắc Hưng Hải chính là “con rồng vàng” làm trỗi dậy một vùng châu thổ rộng lớn.

Ông Nguyễn Văn Kình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hưng Yên, cũng chia sẻ, hệ thống Bắc Hưng Hải có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên nói riêng và 4 địa phương trong vùng phục vụ của hệ thống nói chung.

Rốn ngập Nam Hà thành vựa lúa trù phú

Tại Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Làm thủy lợi phải là phong trào toàn dân. Xã này với xã khác, huyện này với huyện khác, tỉnh này với tỉnh khác, đều có liên quan với nhau, phải cùng làm, phải thảo luận với nhau, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, không nên chỉ nhìn thấy lợi ích của nơi mình và để thiệt hại cho nơi khác”, đặc biệt, phải định hướng đúng phương châm của Chính phủ: giữ nước là chính, thủy lợi hạng nhỏ là chính và nhân dân tự làm là chính”.

Sau thành công của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, nhiều công trình thủy nông ở miền Bắc được quan tâm đầu tư. Đặc biệt là hệ thống 6 trạm bơm điện Bắc Nam Hà, giải quyết tình trạng ngập úng cho “rốn ngập” các tỉnh Hà Nam, Nam Định cũ (nay là tỉnh Ninh Bình).

Sắc xanh bạt ngàn trên công trình thủy lợi Bắc Nam Hà. Ảnh: Quang Dũng. Sắc xanh bạt ngàn trên công trình thủy lợi Bắc Nam Hà. Ảnh: Quang Dũng. 

Ông cha ta có câu "Bụt Nam Sang còn chê oản chiêm", như minh chứng cho nỗi thống khổ của người dân xứ này trước thiên tai.

Theo nhà nông học Bùi Huy Đáp trong cuốn "Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ", Nam Sang là huyện cổ của vùng đồng chiêm Nam Định và khu đồng trũng của huyện Lý Nhân, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Trước đây, khu vực này chỉ cấy được vụ lúa chiêm, còn các vụ khác thì bỏ hóa, nước ngập mênh mông, đi lại chỉ bằng thuyền.

Để giải quyết bài toán úng lụt, giúp nhân dân thâm canh tăng vụ, dẫu trong thời kỳ kháng chiến đang ở giai đoạn khốc liệt, miền Bắc hứng chịu những thiệt hại to lớn, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề nghị Chính phủ Liên Xô hỗ trợ để xóa bỏ vùng trũng này.

Đáp lại đề nghị đó, đoàn chuyên gia Liên Xô đã sang nghiên cứu khảo sát. Năm 1962, lần đầu tiên toàn bộ khu vực phía bắc tỉnh Nam Hà (cũ) được nghiên cứu lập quy hoạch tiêu thoát nước để phát triển sản xuất (gọi tắt là Quy hoạch 1962).

Những vùng đất 'mười năm chín hạn' ở Hải Dương, Hưng Yên hay 'rốn ngập' Nam Hà vùng đồng bằng sông Hồng đã được 'đánh thức' nhờ nguồn nước từ hệ thống thủy lợi, trở thành những vùng sản xuất nông nghiệp trù phú.Những vùng đất 'mười năm chín hạn' ở Hải Dương, Hưng Yên hay 'rốn ngập' Nam Hà vùng đồng bằng sông Hồng đã được 'đánh thức' nhờ nguồn nước từ hệ thống thủy lợi, trở thành những vùng sản xuất nông nghiệp trù phú.

Căn cứ vào điều kiện địa hình, Quy hoạch 1962 (tiền thân của hệ thống thủy lợiBắc Nam Hà) đã xác định toàn vùng có khoảng 77.500ha trũng thấp chỉ cấy được 1 vụ lúa chiêm, bắt buộc phải tiêu bằng động lực. Số diện tích còn lại là gần 7.900ha bao gồm 6 xã khu vực bắc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (gần 2.400ha) và khu vực Độc Bộ thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (gần 5.500ha) là vùng đất cao tiêu tự chảy ra sông Châu và sông Đáy.

Từ năm 1964 đến năm 1972, với sự giúp đỡ của Chính phủ Liên Xô, 6 trạm bơm điện lớn đã được Nhà nước đầu tư xây dựng là Cốc Thành, Cổ Đam, Hữu Bị, Vĩnh Trị, Nhâm Tràng và Như Trác tạo thành Hệ thống 6 trạm bơm điện lớn Bắc Nam Hà hay còn gọi Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà.

Chỉ tay vào tấm bản đồ hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà, ông Trần Văn Dũng - Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hà chỉ cho chúng tôi nơi những dòng kênh thủy lợi đi qua hiện lên như những bức tường bằng nước đang ngày đêm bảo vệ khu vực trũng nhất đồng bằng Bắc Bộ trước những cơn “giận dữ” của thiên nhiên. Ông bảo, cứ mỗi lần mưa lớn là hệ thống lại được vận hành, nhanh chóng bơm tốc lực để chống ngập cả vùng”, ông Dũng nói.

Kiến tạo những kho nước vùng trung du, miền núi

PGS. TS Đỗ Văn Thành, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trong giai đoạn 1961 - 1975, nhiều hồ chứa ở trung du miền núi cũng được xây dựng để tích nước vào mùa mưa, giảm lũ, cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt, điển hình là hồ Nậm Rốm (tỉnh Điện Biên) năm 1963.

Trong giai đoạn 1965 - 1975, thủy lợi vừa phải bảo vệ, ngụy trang, sửa chữa các công trình, vừa tập trung phát triển thủy lợi ở miền núi, trung du. Đây là giai đoạn có nhiều cán bộ thủy lợi và nhân dân hy sinh trong quá trình bảo vệ và xây dựng các công trình thủy lợi.

Nhiều hệ thống công trình được đầu tư xây dựng như hồNúi Cốc(tỉnh Thái Nguyên), hồ Cấm Sơn (tỉnh Bắc Giang cũ, nay là tỉnh Bắc Ninh), hồ Đồng Mô (tỉnh Vĩnh Phúc cũ và Hà Nội, nay thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội), hồ Sông Mực, hồ Núi Một (tỉnh Thanh Hóa), kênh tiêu Vách Bắc (tỉnh Nghệ An), hồ Trung Thuần (tỉnh Quảng Bình cũ, nay là tỉnh Quảng Trị).

Bên cạnh đó, ngành thủy lợi xây dựng những công trình vừa làm nhiệm vụ phát điện, vừa giải quyết nước tưới, tiêu úng, chống lũ cho đồng bằng Bắc Bộ. Tính đến năm 1975, miền Bắc đã xây dựng và đưa vào khai thác được hơn 1.300 công trình thủy nông, hệ thống thủy lợi có thể tưới cho 1,1 triệu ha và tiêu cho 720.000 ha.

Nguồn: mae.gov.vn

 

 

Thủy lợi kiến quốc: Đánh thức châu thổ sông Hồng

 

Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiên định mục tiêu phát triển bền vững

Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường quán triệt mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao vị thế ngành.

Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030

Truyền hình trực tiếp: Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030

Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường với 4 đột phá chiến lược

Sáng 14/8, Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã diễn ra long trọng. Sự kiện có sự tham dự và chỉ đạo của đồng chí Trần Hồng Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

Tham dự Đại hội có lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; nguyên lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường và 259 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10.000 đảng viên thuộc 82 tổ chức đảng trực thuộc Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Các đại biểu tham dự Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Tùng Đinh.Các đại biểu tham dự Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Tùng Đinh.

Sự kiện sinh hoạt chính trị đặc biệt quan trọng

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ Bộ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết, với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong việc thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu của ngành Nông nghiệp và Môi trường đến năm 2030; nỗ lực, sáng tạo, tự tin vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Quyền Bộ trưởng nhấn mạnh Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I là sự kiện sinh hoạt chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường nói riêng và của toàn ngành nói chung.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu khai mạc Đại hội. Ảnh: Tùng Đinh.Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Bộ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu khai mạc Đại hội. Ảnh: Tùng Đinh.

Vì vậy, các đồng chí đại biểu dự Đại hội cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ, phát huy cao nhất vai trò đại diện ý chí, nguyện vọng của các cấp ủy Đảng và hơn 10.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ, quán triệt và nhận thức sâu sắc phương châm Đại hội, tích cực đóng góp vào thành công của Đại hội.

Với khát vọng phát triển mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao, toàn Đảng bộ phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, thống nhất, trách nhiệm sâu sắc trước Đảng và nhân dân, phát huy phẩm chất, năng lực, khát vọng cống hiến, đổi mới của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động trong toàn ngành, quyết tâm thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu của ngành Nông nghiệp và Môi trường đến năm 2030, góp phần thiết thực kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng; hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước.

Thay mặt Đoàn chủ tịch, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ đã trình bày Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Dự thảo Báo cáo chính trị đã tóm tắt, phác họa bức tranh toàn cảnh về những thành tựu nổi bật, thách thức còn tồn đọng và định hướng phát triển chiến lược của Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong nhiệm kỳ vừa qua, đồng thời mở ra tầm nhìn đầy triển vọng cho giai đoạn 2025-2030.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ trình bày Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Tùng Đinh.Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ trình bày Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Tùng Đinh.

Theo đó, nhiệm kỳ qua, Đảng bộ Bộ đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện các mặt công tác, đạt nhiều kết quả quan trọng, bám sát các quan điểm, mục tiêu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng. Các nghị quyết, chương trình hành động được cụ thể hóa, triển khai đồng bộ, góp phần giữ vững vai trò chủ lực của ngành trong phát triển kinh tế - xã hội.

Theo Thứ trưởng, thành tựu đạt được là kết quả của đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Trung ương, sự đồng lòng, nỗ lực của cán bộ, đảng viên, cùng sự phối hợp, ủng hộ từ cộng đồng quốc tế, các địa phương, doanh nghiệp và nhân dân.

Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Bộ cho biết, trong nhiệm kỳ vừa qua, công tác xây dựng Đảng được đặc biệt coi trọng. Công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức được duy trì thường xuyên, góp phần tạo sự đoàn kết, đồng thuận cao, động viên cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tổ chức bộ máy được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; công tác bảo vệ chính trị nội bộ được đặt lên hàng đầu. Hoạt động kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí được triển khai liên tục. Công tác dân vận và lãnh đạo các đoàn thể được đổi mới, tăng cường khối đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.

 Bên cạnh kết quả đạt được, ngành vẫn đối mặt nhiều hạn chế, trong đó một số quy định pháp luật chưa sát thực tiễn, phải sửa đổi trong thời gian ngắn. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa có đột phá; hệ thống cơ sở dữ liệu nông nghiệp, môi trường chưa hoàn thiện, còn phân tán, thiếu kết nối. Đồng thời, chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp chưa có chuyển biến rõ nét; Phát triển nông nghiệp vẫn còn yếu tố thiếu bền vững, chậm chuyển đổi từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp; Dịch vụ logistics, công nghiệp chế biến sâu chưa phát triển mạnh.

Ngoài ra, trong quản lý tài nguyên, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, mô hình kinh tế xanh, tuần hoàn còn tự phát. Ô nhiễm môi trường tại một số cụm công nghiệp, sông nội đô, làng nghề vẫn chưa cải thiện rõ rệt.

Định hướng nhiệm kỳ 2025 – 2030

Nhiệm kỳ mới diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động sâu sắc, cạnh tranh kinh tế, chính trị gia tăng, biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thống tác động tiêu cực. Trong nước, sau 40 năm đổi mới, vị thế ngành Nông nghiệp và Môi trường được củng cố, giữ vai trò quan trọng trong phát triển bền vững.

Các đại biểu thống nhất cao với các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Khương Trung.Các đại biểu thống nhất cao với các chương trình của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Ảnh: Khương Trung.

Trên cơ sở đó, Đảng bộ Bộ xác định các quan điểm lớn, đó là: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba trụ cột gắn bó mật thiết; Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, gắn với kinh tế xanh, tuần hoàn, tri thức; Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên đa mục tiêu, coi đây là nguồn lực quốc gia; Bảo vệ môi trường là mục tiêu và nội dung cốt lõi của phát triển bền vững; không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng đơn thuần; Ứng phó biến đổi khí hậu là trách nhiệm toàn xã hội, hướng tới trung hòa carbon, đóng góp vào mục tiêu toàn cầu; Quản lý, khai thác bền vững tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, thúc đẩy kinh tế biển gắn với bảo vệ hệ sinh thái.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 hướng đến mục tiêu đến năm 2030 ngành đạt tới nền nông nghiệp hiện đại, năng suất, chất lượng cao, thuộc nhóm dẫn đầu Đông Nam Á và top 15 thế giới; đảm bảo an ninh lương thực, duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu. Song song, ngành chủ động thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, hướng tới nền kinh tế xanh.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đóng góp trên 50% tăng trưởng ngành; Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh để huy động nguồn lực, xử lý các vấn đề an ninh phi truyền thống; Hệ thống hạ tầng nông nghiệp, nông thôn cơ bản hiện đại; tiềm năng kinh tế biển được phát huy tối đa.

Các giải pháp trọng tâm cho 4 đột phá chiến lược

Báo cáo chính trị của Bộ cũng chỉ ra các giải pháp để đạt được những mục trong thời gian tới, đó là trong lĩnh vực nông nghiệp, ngành tiếp tục triển khai các chiến lược, quy hoạch đã được phê duyệt, tập trung gỡ “thẻ vàng” EC, hoàn thiện tiêu chuẩn quản lý chất lượng, phát triển logistics và chế biến sâu, thúc đẩy kinh tế tư nhân, khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng nông thôn mới gắn đô thị hóa và bảo vệ môi trường.

Toàn cảnh Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra sáng 14/8. Ảnh: Tùng Đinh.Toàn cảnh Đại hội Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra sáng 14/8. Ảnh: Tùng Đinh.

Trong quản lý tài nguyên, môi trường, ngành tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai, khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản, nước; triển khai chiến lược kinh tế biển, quy hoạch không gian biển; mở rộng khu bảo tồn thiên nhiên, di sản.

Về ứng phó biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn, thủy lợi, ngành sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu khí hậu, quản lý tín chỉ carbon, đầu tư hạ tầng thủy lợi đa mục tiêu, tăng cường dự báo, cảnh báo thiên tai, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương.

Đặc biệt, trong công tác xây dựng Đảng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính trị tư tưởng, thực hiện nghiêm học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao công tác dân vận.

Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ cũng đưa ra bốn đột phá chiến lược được xác định gồm: hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, với quyết tâm cao, Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tiếp tục giữ vững vai trò đầu tàu trong phát triển nông nghiệp, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Nguồn: nongnghiepvamoitruong.vn

Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiên định mục tiêu phát triển bền vững

 
Trang 12345678910

Trang 4 trong tổng số 47 trang

Video Sự kiện

Chúc mừng năm mới 2026

 

  • Tin mới nhất
  • Tin xem nhiều nhất

Liên kết web

Bộ Nông nghiệp và môi trường Cục quản lý tài nguyên nước Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia Tổng cục địa chất và khoáng sản Dự án BRG Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam Ủy ban sông Mê Kông Hội địa chất thủy văn Việt Nam

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2487
mod_vvisit_counterTrong tuần10722
mod_vvisit_counterTrong tháng13173
mod_vvisit_counterTất cả8202568

We have: 34 guests online