|
Mưa lớn trên diện rộng đặt ra yêu cầu bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, chủ động tiêu úng, bảo vệ sản xuất và duy trì nước sạch cho người dân nông thôn.
Trước dự báo mưa lớn tại nhiều khu vực, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đề nghị các địa phương, đơn vị khẩn trương kiểm tra hồ đập, chủ động tiêu thoát nước, sẵn sàng phương án bảo đảm nước sinh hoạt nông thôn. Hồ chứa phải được vận hành theo các kịch bản đã chuẩn bị, không xả lũ bất thường gây mất an toàn hạ du.
Đây là những yêu cầu trọng tâm tại Công điện số 18/CĐ-TL-ATĐ ngày 4/10 Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi gửi các cơ quan, đơn vị liên quan tại các tỉnh, thành phố khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ từ Thanh Hóa đến Quảng Ngãi, Lâm Đồng và Nam Bộ.
Bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, chủ động tiêu úng, bảo vệ sản xuất và duy trì nước sạch cho người dân nông thôn trước mưa lớn. Ảnh: Kim Sơ.
Kiểm tra công trình, chủ động tiêu úng trước mưa lớn
Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, từ chiều tối 4/10 đến ngày 5/10, Bắc Bộ và khu vực từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh có mưa, mưa vừa và dông, lượng mưa phổ biến 15-40 mm, cục bộ trên 130 mm. Chiều tối và đêm 4/10, Nam Bộ và Lâm Đồng có mưa rào, rải rác có dông, cục bộ mưa to trên 70 mm.
Từ đêm 5/10 đến ngày 6/10, khu vực từ Hà Tĩnh đến thành phố Huế có mưa vừa, mưa to và dông, lượng mưa phổ biến 40-80 mm, cục bộ trên 150 mm. Tiếp đó, từ đêm 6/10 đến ngày 7/10, khu vực từ Quảng Trị đến thành phố Đà Nẵng và phía Đông tỉnh Quảng Ngãi có lượng mưa phổ biến 40-80 mm, cục bộ trên 200 mm. Mưa lớn tại khu vực này còn có khả năng kéo dài trong những ngày tiếp theo.
Để chủ động ứng phó, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi đề nghị các đơn vị theo dõi chặt chẽ bản tin dự báo khí tượng thủy văn, diễn biến mưa, lũ; kiểm tra, rà soát công trình thủy lợi trọng điểm và công trình nước sạch nông thôn có nguy cơ xảy ra sự cố. Qua kiểm tra, phải chuẩn bị sẵn phương án bảo đảm an toàn, bố trí lực lượng, vật tư và phân công nhiệm vụ cụ thể.
Đặc biệt, các hồ chứa đang thi công phải được kiểm tra kỹ những hạng mục dưới sâu, công trình ngầm, công trình dẫn dòng. Chủ đầu tư, ban quản lý dự án và đơn vị liên quan cần sẵn sàng phương án bảo vệ người, máy móc, thiết bị thi công có nguy cơ bị ảnh hưởng.
Với hồ chứa đang khai thác nhưng hư hỏng, xuống cấp, có nguy cơ mất an toàn, công điện yêu cầu có biện pháp hạn chế hoặc không tích nước. Đồng thời, tổ chức cảnh báo, trực gác, cấm hoặc hạn chế đi lại tại khu vực nguy hiểm; chuẩn bị lực lượng, vật tư để triển khai ứng phó theo phương châm “bốn tại chỗ”.
Song song với bảo vệ công trình, các địa phương phải rà soát, khoanh vùng diện tích cây trồng có nguy cơ ngập lụt, úng. Phương án ứng phó cần bám sát tình hình mưa và năng lực tiêu thoát nước của hệ thống thủy lợi, trong đó chủ động tiêu nước đệm trong nội đồng để giảm nguy cơ ngập úng khi mưa lớn xảy ra.
Khi xuất hiện ngập lụt, úng, các đơn vị phải khẩn trương vận hành tối đa năng lực công trình để tiêu nước. Ưu tiên giảm ngập cho khu vực dân cư, công nghiệp, diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao và các vùng trũng, thấp.
Đối với hồ chứa có cửa van xả lũ, đơn vị quản lý phải chuẩn bị sẵn các kịch bản vận hành, thực hiện nghiêm việc cảnh báo sớm cho người dân vùng hạ du trước khi xả lũ và khi có nguy cơ xảy ra sự cố. Công điện nhấn mạnh yêu cầu không xả lũ bất thường gây mất an toàn hạ du, đồng thời tranh thủ tích nước trên cơ sở bảo đảm an toàn công trình.
Tích nước có kiểm soát, bảo đảm nước sinh hoạt nông thôn
Cùng với nhiệm vụ phòng, chống ngập úng, các đơn vị quản lý hồ chứa cần chủ động chuẩn bị nguồn nước để ứng phó hạn hán, thiếu nước trong mùa khô tới do ảnh hưởng của El Niño.
Những hồ chứa có dung tích trữ thấp hoặc đã đến thời gian được phép tích nước phải rà soát, cập nhật kế hoạch, thực hiện tích nước từng bước phù hợp với thông tin dự báo mưa. Mục tiêu là tích được lượng nước cao nhất nhưng phải bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình và không gây xả lũ bất thường.
Mưa lớn diện rộng, yêu cầu hồ chứa không xả lũ bất thường. Ảnh: NNMT.
Đối với nước sinh hoạt nông thôn, các địa phương, đơn vị cấp nước cần kiểm tra công trình có nguy cơ xảy ra sự cố, sẵn sàng triển khai phương án ứng phó. Đồng thời, thông báo để người dân chủ động tích trữ nước tại hộ gia đình, bảo đảm nguồn sử dụng khi xảy ra sự cố cấp nước.
Công tác tuyên truyền cần tập trung hướng dẫn người dân thu, trữ và xử lý nước bằng các giải pháp đơn giản trong trường hợp không có nước sạch; sử dụng nước tiết kiệm, an toàn, hiệu quả. Các biện pháp này phải được triển khai cùng với việc bảo vệ công trình cấp nước, hạn chế nguy cơ thiếu nước sinh hoạt trong thời gian mưa, lũ.
|
Để kịp thời xử lý tình huống phát sinh, công điện yêu cầu tổ chức trực ban 24/24 giờ trong thời gian có mưa, lũ; bố trí nhân lực thường trực tại công trình có nguy cơ xảy ra sự cố. Khi phát hiện bất thường, các đơn vị phải xử lý ngay từ giờ đầu, triển khai phương án ứng phó theo phương châm “bốn tại chỗ”.
Tình hình an toàn công trình thủy lợi, công trình nước sạch nông thôn, thiếu nước sinh hoạt, sự cố và vận hành tiêu úng phải được báo cáo thường xuyên về bộ phận thường trực của Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
|
Thành phố Bắc Ninh đang từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý tài nguyên nước, tăng cường giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước.
Rà soát, thống nhất quản lý nguồn nước
Tài nguyên nước không dừng lại ở ranh giới hành chính. Một nguồn nước có thể phục vụ nhiều địa bàn, trong khi hoạt động khai thác tại một khu vực có thể tác động đến khu vực khác. Vì vậy, sau khi Bắc Giang và Bắc Ninh hợp nhất, việc thống nhất phương thức quản lý, dữ liệu và các danh mục về tài nguyên nước trở thành yêu cầu cấp thiết.
Bắc Ninh tăng cường quản lý, giám sát các công trình liên quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước. Ảnh: Bảo Hà.
Thực tế này đặt ra sức ép không nhỏ đối với cơ quan quản lý, nhất là trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất công nghiệp, đô thị, nông nghiệp và sinh hoạt ngày càng lớn.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Bắc Ninh, từ ngày 1/7/2025 đến 30/6/2026, ngành tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ nhằm củng cố công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn sau sáp nhập. Trong đó, tỉnh Bắc Ninh (nay là thành phố Bắc Ninh) đã ban hành Quyết định số 66/2025/QĐ-UBND ngày 6/11/2025 về Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước. Đây là một trong những cơ sở để phân định trách nhiệm, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và chính quyền cơ sở.
Trên địa bàn thành phố hiện có 121 giấy phép khai thác nước phục vụ mục đích sinh hoạt thuộc trường hợp phải xác định, công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Đến nay, 121/121 giấy phép đã được phê duyệt xác định vùng bảo hộ. Một số giấy phép trong số này đã dừng hoạt động và không tiếp tục khai thác nước. Việc xác định vùng bảo hộ không chỉ là thủ tục quản lý mà còn tạo cơ sở để kiểm soát các hoạt động có nguy cơ tác động đến chất lượng nguồn nước tại khu vực khai thác phục vụ sinh hoạt.
Bên cạnh nước phục vụ sinh hoạt, thành phố đang rà soát hệ thống hồ, ao, đầm không được san lấp. Trước khi sáp nhập, tỉnh Bắc Ninh cũ có 388 hồ, ao, đầm trong danh mục không được san lấp và tỉnh Bắc Giang cũ có 883 hồ, ao, đầm. Sau sáp nhập, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã yêu cầu UBND các xã, phường rà soát để đề xuất giữ nguyên, bổ sung hoặc đưa ra khỏi danh mục những công trình không còn phù hợp.
Đây không đơn thuần là việc cập nhật danh sách. Hồ, ao, đầm có vai trò trong trữ nước, điều hòa dòng chảy, tiêu thoát nước và duy trì các hệ sinh thái nước. Vì vậy, việc rà soát cần gắn với hiện trạng từng công trình, chức năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ nguồn nước tại địa phương. Trên cơ sở kết quả rà soát của các xã, phường, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến các cơ quan liên quan để hoàn thiện danh mục mới, dự kiến trình UBND thành phố trong tháng 9/2026.
Xử lý vi phạm để bảo vệ nguồn tài nguyên
Cùng với nguồn nước mặt, nước dưới đất cũng được đưa vào diện quản lý chặt chẽ hơn. Thành phố đang thực hiện nhiệm vụ lập kế hoạch bảo vệ nước dưới đất, đồng thời khoanh định, công bố điều chỉnh danh mục vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, dự kiến hoàn thành trong năm 2026.
Hệ thống công trình tiêu thoát nước trên địa bàn TP. Bắc Ninh góp phần điều tiết, tiêu thoát nước, phục vụ sản xuất và đời sống người dân. Ảnh: Bảo Hà.
Từ ngày 1/7/2025 đến 30/6/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tiếp nhận, thẩm định và trình Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh cũ (nay TP. Bắc Ninh) cấp 25 giấy phép về tài nguyên nước. Trong đó có 12 giấy phép khai thác nước dưới đất, 9 giấy phép khai thác nước mặt, 3 giấy phép thăm dò nước dưới đất và 1 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.
Đối với 21 giấy phép khai thác nước thuộc diện phải kê khai tiền cấp quyền, đến nay 14 giấy phép đã được phê duyệt với tổng số tiền 13,567 tỷ đồng. Hai trường hợp chưa đến thời điểm khai thác nên chưa kê khai; 5 hồ sơ còn lại đang được thẩm định.
Tuy nhiên, cấp phép mới chỉ là một khâu trong chuỗi quản lý, điều quan trọng là hoạt động khai thác sau cấp phép phải được theo dõi, giám sát thường xuyên. Hệ thống giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước được xây dựng tại Bắc Giang cũ từ năm 2023 hiện tiếp tục được duy trì. Thực hiện quy định mới, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Văn bản số 4021/SNNMT-TNKS ngày 22/5/2026, yêu cầu các chủ giấy phép thực hiện truyền số liệu về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước do Cục Quản lý Tài nguyên nước quản lý.
Cùng với dữ liệu từ hệ thống giám sát, tỉnh duy trì quan trắc động thái nước dưới đất tại 47 giếng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũ từ năm 2018 đến nay. Dữ liệu được cập nhật, chia sẻ định kỳ với Cục Quản lý Tài nguyên nước.
Ông Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Bắc Ninh cho biết, theo kế hoạch kiểm tra chuyên ngành năm 2026, Phòng Tài nguyên và Khoáng sản đã hoàn thành kiểm tra 4/8 đơn vị. Bên cạnh đó, cơ quan chuyên môn tham mưu xử lý một hồ sơ vi phạm về tài nguyên nước, triển khai kết luận thanh tra của Thanh tra thành phố và xử lý một vụ việc do Cục Quản lý Tài nguyên nước giao.
Từ tháng 7/2025 đến nay, cơ quan chức năng đã chuyển người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với 3 đơn vị, tổng số tiền 617.937.935 đồng. Đến nay, cả 3 đơn vị đã hoàn thành việc nộp phạt. Kết quả này cho thấy công tác kiểm tra đang được gắn với xử lý sau kiểm tra, thay vì chỉ dừng ở việc phát hiện và nhắc nhở. Trong quản lý tài nguyên nước, đây là yếu tố quan trọng để nâng cao tính tuân thủ của các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước.
Theo ông Bùi Quang Phát, thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã, phường sẽ phối hợp với lực lượng công an và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra các dự án có hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Trọng tâm là phát hiện, xử lý các trường hợp khai thác không có giấy phép, giấy phép hết hạn hoặc khai thác vượt lưu lượng được cấp phép.
Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2026, UBND cấp xã tổ chức việc kê khai nước dưới đất của hộ gia đình theo quy định của Luật Tài nguyên nước. Các địa phương cũng phải rà soát, đôn đốc tổ chức, cá nhân thuộc trường hợp phải đăng ký khai thác tài nguyên nước thực hiện thủ tục theo quy định.
Đây là nhiệm vụ mới đặt thêm trách nhiệm cho chính quyền cơ sở. Khi quản lý được đưa gần hơn tới địa bàn dân cư, hiệu quả sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng nắm bắt thực tế, cập nhật dữ liệu và phối hợp xử lý của cấp xã.
Từ rà soát các vùng bảo hộ, danh mục hồ, ao, đầm không được san lấp đến quản lý nước dưới đất, giám sát dữ liệu và xử lý vi phạm, thành phố Bắc Ninh đang từng bước xây dựng phương thức quản lý tài nguyên nước theo hướng chủ động.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Sơn La tăng cường kiểm soát nguồn thải, đồng thời rà soát, xây dựng kế hoạch phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm.
Áp lực từ nhiều nguồn thải
Năm 2025, tỉnh Sơn La thực hiện 4 đợt quan trắc môi trường nước mặt tại 49 vị trí. Kết quả cho thấy chất lượng nước mặt có sự biến động giữa các đợt, song nhìn chung tương đối ổn định; nhiều nguồn nước có thể sử dụng cho mục đích sinh hoạt sau khi được xử lý phù hợp.
Các thông số kim loại nặng như đồng, kẽm, sắt, chromi... đều nằm trong giới hạn cho phép. Hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong nước mặt ở mức rất thấp, thấp hơn nhiều lần so với QCVN 08:2023/BTNMT và đều nằm trong giới hạn cho phép.

Theo đánh giá chung, chất lượng môi trường nước trên địa bàn tỉnh Sơn La không có dấu hiệu ô nhiễm trên diện rộng. Tuy nhiên, tại một số thời điểm vẫn xuất hiện tình trạng ô nhiễm cục bộ ở những khu vực chịu tác động trực tiếp từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Đây là những điểm cần tiếp tục được theo dõi, xác định nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời.
Đối với nước dưới đất, hoạt động quan trắc được thực hiện tại 13 vị trí, với 14 thông số và tần suất 3 đợt trong năm. Kết quả cho thấy chất lượng nước có sự biến động; một số điểm có dấu hiệu ô nhiễm E.coli và tổng Coliform. Nguyên nhân chủ yếu do nước thải từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất và chăn nuôi trên bề mặt ngấm xuống các tầng chứa nước.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Sơn La, một trong những nguồn tác động đến môi trường nước là hoạt động chế biến nông sản quy mô nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tại khu vực đô thị và nông thôn chưa đồng bộ cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm cục bộ nguồn nước mặt tại các sông, suối chảy qua khu dân cư tập trung, đồng thời tác động đến chất lượng nước dưới đất tại một số khu vực.
Hiện nay, Sơn La đã xây dựng và đưa vào vận hành 2 hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, với tổng công suất trên 11.000 m³/ngày đêm. Tuy nhiên, đến năm 2025, tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý tập trung mới đạt gần 31%. Lượng nước thải còn lại chủ yếu được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại trước khi xả ra môi trường.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Sơn La cho biết, hằng năm, Sở tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương, đơn vị liên quan triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường, nguồn nước.
Theo đó, các cơ sở quy mô nhỏ, hợp tác xã, hộ gia đình chỉ được hoạt động sơ chế, chế biến nông sản khi đã hoàn thiện thủ tục pháp lý và đầu tư công trình xử lý chất thải đáp ứng quy định. Mọi hình thức xả trực tiếp chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn ra môi trường đều là hành vi vi phạm và sẽ bị xử lý nghiêm.
Đối với các cơ sở chế biến quy mô công nghiệp, hệ thống xử lý nước thải phải được vận hành đầy đủ, bảo đảm nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Rác thải sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp phát sinh trong quá trình sản xuất phải được thu gom, xử lý đúng quy trình.

Khoanh vùng bảo vệ, từng bước phục hồi
Để chủ động kiểm soát nguy cơ suy thoái, ô nhiễm nguồn nước, Sơn La đã triển khai điều tra, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của các sông, suối chính trên địa bàn; lập bản đồ phân vùng tiếp nhận nước thải của nguồn nước; đang xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với những sông, suối có vai trò quan trọng.
Bên cạnh đó, tỉnh đã thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước, nhằm ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, san lấp và các hoạt động ảnh hưởng đến dòng chảy, chất lượng nước.

Công tác bảo vệ nước dưới đất cũng được chú trọng. Sơn La đã phê duyệt danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, vùng phải đăng ký khai thác theo Nghị định số 167/2018/NĐ-CP; hướng dẫn xử lý, trám lấp 250 giếng khoan, giếng đào không còn sử dụng.
Việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản được kiểm soát thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành và xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn, VietGAP, hữu cơ tại các vùng trồng cây ăn quả, vùng nuôi cá lồng trên hồ thủy điện.
Về nhiệm vụ thời gian tới, theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh sẽ tiếp tục kiểm soát chặt nguồn thải vào nguồn nước, nhất là nước thải sinh hoạt đô thị, chế biến cà phê, tinh bột sắn, mía đường… và chăn nuôi tập trung. Đồng thời, rà soát, xác định nguy cơ suy thoái, ô nhiễm tại các nguồn nước chính như suối Nậm La, Nậm Pàn, suối Muội, suối Sập và các dòng suối chảy qua khu vực đô thị để xây dựng kế hoạch phục hồi, bố trí nguồn lực thực hiện.
Cùng với đó, tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới thu gom, xử lý nước thải đô thị; đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung cho các cụm công nghiệp đang hoạt động; phát triển hồ điều hòa đa năng trong đô thị theo quy hoạch. Phấn đấu nâng tỷ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt 40% vào năm 2030.
Sơn La đã phê duyệt danh mục 210 sông, suối, hồ chứa phải lập hành lang bảo vệ; phê duyệt 30 vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước của 30 công trình. Đồng thời, công bố danh mục 195 hồ, ao, đầm không được san lấp, tạo cơ sở để các địa phương quản lý hiện trạng, ngăn ngừa việc tự ý san lấp hoặc thu hẹp diện tích mặt nước.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
|
Nắm chắc nguồn nước để quản lý
Với địa hình miền núi, dân cư phân bố không đồng đều, nguồn nước tại Lạng Sơn cũng có sự khác biệt giữa các khu vực. Có nơi thuận lợi về nước mặt, nhưng tại một số vùng núi cao, nguồn nước sinh hoạt còn khó khăn, nhất là vào mùa khô. Vì vậy, việc điều tra, nắm được trữ lượng, khả năng khai thác và nhu cầu sử dụng là cơ sở quan trọng trong quản lý tài nguyên nước.
Bà Hoàng Thị Thu Thủy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi cho biết, sau khi Luật Tài nguyên nước năm 2023 có hiệu lực, tỉnh đã triển khai các nội dung theo quy định mới, từ phổ biến pháp luật, rà soát văn bản đến hoàn thiện các công cụ phục vụ quản lý tài nguyên nước.
Cán bộ chuyên môn thực hiện quan trắc, thu thập thông tin phục vụ quản lý tài nguyên nước trên địa bàn Lạng Sơn. Ảnh: Hoàng Nghĩa.
UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2023. Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết với 160 đại biểu tham gia. Trong năm 2026, một số nội dung về quản lý tài nguyên nước tiếp tục được lồng ghép phổ biến tại 2 lớp với 130 đại biểu.
Cùng với đó, các quy định thuộc thẩm quyền địa phương được rà soát để phù hợp với quy định hiện hành. Sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật lập hành lang bảo vệ nguồn nước; rà soát, bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp.
Phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được tích hợp vào Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn. Đây là căn cứ để địa phương xem xét nhu cầu sử dụng gắn với khả năng đáp ứng của nguồn nước ở từng khu vực.
32 giếng khoan tại vùng khan hiếm nước
Tìm nguồn nước cho các vùng núi cao, khan hiếm nước là một trong những kết quả đáng chú ý trong công tác điều tra tài nguyên nước tại Lạng Sơn.
Trong khuôn khổ dự án tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước khu vực miền núi, trung du Bắc Bộ, cơ quan chuyên môn đã thực hiện điều tra, tìm kiếm tại 13 vùng khan hiếm nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.
Qua điều tra, 32 giếng khoan thăm dò được thực hiện. Tổng trữ lượng tiềm năng có thể khai thác đạt 7.040 m3/ngày, đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng nước sinh hoạt tại các vùng được điều tra, tìm kiếm. Các giếng khoan đã được kết cấu bảo đảm có thể xây dựng công trình cấp nước sạch tập trung phục vụ người dân.
Kết quả này có ý nghĩa đối với những khu vực thường gặp khó khăn về nguồn nước. Khi vị trí và khả năng khai thác nước dưới đất được xác định, địa phương có thêm cơ sở để tính toán đầu tư các công trình cấp nước phù hợp, thay vì chỉ phụ thuộc vào những nguồn nước nhỏ lẻ.
Một phần việc quan trọng khác là kiểm kê tài nguyên nước. Lạng Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ kiểm kê và kết quả được UBND tỉnh phê duyệt vào tháng 9/2025. Tỉnh cũng đã hoàn thành xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên nước.
Việc có dữ liệu về nguồn nước giúp cơ quan chuyên môn thuận lợi hơn trong theo dõi hiện trạng, xem xét nhu cầu khai thác và phục vụ công tác quản lý. Danh mục nguồn nước mặt nội tỉnh cũng đã được UBND tỉnh phê duyệt, tạo thêm cơ sở để quản lý từng nguồn nước trên địa bàn.
Nguồn nước mặt trên địa bàn Lạng Sơn được quản lý, bảo vệ gắn với nhu cầu khai thác, sử dụng. Ảnh: Đinh Mười.
Kiểm soát khai thác bằng giấy phép
Cùng với điều tra và xây dựng dữ liệu, hoạt động khai thác, sử dụng nước được quản lý thông qua cấp phép và đăng ký theo quy định.
Hiện trên địa bàn Lạng Sơn có 131 giấy phép tài nguyên nước còn hiệu lực. Trong đó, 63 giấy phép khai thác nước mặt, 53 giấy phép khai thác nước dưới đất và 15 giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất.
Tỉnh đã cấp 4 giấy xác nhận đăng ký khai thác nước mặt, sử dụng mặt nước cho 43 công trình thủy lợi và Dự án Khu du lịch sinh thái thác Đăng Mò, xã Bình Gia.
Các con số trên phản ánh khá rõ phạm vi khai thác tài nguyên nước đang được quản lý. Thông qua giấy phép và đăng ký, cơ quan chức năng có căn cứ nắm quy mô, mục đích khai thác của các công trình, từ đó theo dõi việc sử dụng nguồn nước theo quy định.
Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính trong khai thác tài nguyên nước cũng được triển khai. Đến nay, tỉnh đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với 65 công trình, với tổng số tiền hơn 8,28 tỷ đồng.
Trong điều kiện nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, kiểm soát hoạt động khai thác có ý nghĩa trực tiếp đối với việc duy trì nguồn nước. Việc khai thác phải phù hợp với khả năng đáp ứng của từng nguồn, tránh ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nước ở khu vực xung quanh.
Bảo vệ từ khu vực lấy nước
Bên cạnh quản lý khai thác, Lạng Sơn đã triển khai các biện pháp bảo vệ nguồn nước thông qua lập hành lang và xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt.
UBND tỉnh đã ban hành danh mục các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn. Đến nay, 3 phương án cắm mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước hồ chứa thủy điện đã được phê duyệt.
Đối với các nguồn nước phục vụ sinh hoạt, tỉnh đã phê duyệt phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước của các công trình được cấp giấy phép khai thác, sử dụng nước. Việc phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh đồng thời với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đã được thực hiện đối với 7 công trình.
Danh mục hồ, ao không được san lấp cũng đang được rà soát. Trên cơ sở Luật Tài nguyên nước năm 2023 cùng các nghị định hướng dẫn, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt điều chỉnh danh mục hồ, ao không được san lấp trên địa bàn.
Theo bà Hoàng Thị Thu Thủy, cùng với việc nắm chắc hiện trạng nguồn nước, quản lý hoạt động khai thác thì bảo vệ nguồn nước là yêu cầu xuyên suốt. Những kết quả điều tra, kiểm kê và cơ sở dữ liệu đã có sẽ tiếp tục được sử dụng để phục vụ công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn.
Các hồ chứa vừa phục vụ khai thác nguồn nước, vừa đặt ra yêu cầu quản lý, bảo vệ hành lang nguồn nước. Ảnh: Hoàng Nghĩa.
Với đặc thù miền núi, nguồn nước phân bố không đồng đều, yêu cầu đặt ra với Lạng Sơn là quản lý sát với điều kiện của từng khu vực. Nguồn nước cần được khai thác phù hợp với nhu cầu dân sinh, sản xuất, đồng thời được bảo vệ để duy trì khả năng sử dụng lâu dài.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Công nghệ vệ tinh mở ra hướng mới trong giám sát tài nguyên nước, từ theo dõi mực nước sông, hồ đến hỗ trợ cảnh báo lũ và ứng phó biến đổi khí hậu.
Dữ liệu kiểm kê phục vụ quản lý tài nguyên nước
Báo Vietnam Plus đưa tin, ngày 7/9, tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), Hội Khoa học Gặp gỡ Việt Nam, ICISE phối hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ quốc gia Pháp (CNES), Hydro Matters và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) khai mạc Trường học Việt Nam về quan sát Trái đất lần thứ 6 (VSEO-6).
Với chủ đề “Đo cao vệ tinh - Công cụ hỗ trợ giám sát biến động tài nguyên nước lục địa”, sự kiện diễn ra từ ngày 7-11/9, quy tụ gần 50 giáo sư, nhà khoa học, nhà nghiên cứu trẻ và học viên đến từ 6 quốc gia.
Ông Denis Fourmeau, Tùy viên Khoa học và Giáo dục Đại học, Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Sỹ Thắng/TTXVN.
Khai thác dữ liệu vệ tinh cho quản lý nước
VSEO-6 tập trung vào công nghệ đo cao vệ tinh, một phương pháp cho phép thu thập dữ liệu về mực nước và theo dõi những thay đổi của các thủy vực từ không gian. Đây là nguồn dữ liệu có giá trị trong quan trắc sông, hồ và hồ chứa, đặc biệt tại những khu vực khó tiếp cận hoặc thiếu mạng lưới quan trắc mặt đất.
Trong khuôn khổ chương trình, học viên được hướng dẫn quy trình xử lý dữ liệu đo cao vệ tinh, xây dựng và trực quan hóa chuỗi số liệu theo thời gian; đồng thời khai thác, xử lý và kiểm định dữ liệu từ các nhiệm vụ vệ tinh đang hoạt động thuộc chương trình Copernicus và các nhiệm vụ nghiên cứu, trong đó có SWOT (Surface Water and Ocean Topography).
Điểm đáng chú ý của VSEO-6 là kết nối công nghệ quan sát Trái đất từ không gian với các bài toán thực tế trên mặt đất. Dữ liệu vệ tinh có thể được sử dụng để theo dõi biến động mực nước tại sông, hồ, hồ chứa; hỗ trợ giám sát và cảnh báo thiên tai, nhất là lũ lụt; phục vụ quản lý các lưu vực sông xuyên biên giới và nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu.
Thông qua các bài giảng, phiên thực hành và hội thảo chuyên đề, học viên được tiếp cận cả kiến thức lý thuyết và kỹ năng xử lý dữ liệu, đồng thời tìm hiểu cách tích hợp dữ liệu đo cao vệ tinh vào các mô hình thủy văn. Chương trình hướng tới các nhà nghiên cứu trẻ, kỹ sư, giảng viên và học viên có nhu cầu nâng cao chuyên môn về quan trắc tài nguyên nước lục địa bằng công nghệ đo cao vệ tinh.
Công nghệ vệ tinh mở ra hướng mới trong giám sát tài nguyên nước, từ theo dõi mực nước sông, hồ đến hỗ trợ cảnh báo lũ và ứng phó biến đổi khí hậu. Ảnh: CIMA Research Foundation.
Mở rộng hợp tác khoa học
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai Nguyễn Hữu Hà đánh giá cao việc VSEO được duy trì tổ chức trong 6 năm liên tục. Theo ông, hoạt động này không chỉ góp phần đào tạo nguồn nhân lực trẻ trong lĩnh vực quan sát Trái đất mà còn thúc đẩy mạng lưới hợp tác giữa các nhà khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế.
Ông Denis Fourmeau, Tùy viên Hợp tác khoa học và Giáo dục đại học, Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, nhấn mạnh VSEO-6 được tổ chức với sự phối hợp của CNES và sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp, trong khuôn khổ Năm Đổi mới sáng tạo Pháp - Việt.
Pháp đang phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam huy động nguồn lực cho các chương trình, dự án liên quan đến vệ tinh quan sát Trái đất trong tương lai của Việt Nam.
VSEO-6 được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực khai thác dữ liệu vệ tinh cho các nhà khoa học trẻ, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, giám sát tài nguyên nước và ứng phó với những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|