|
Ngày 15/6, UBND TP Đà Nẵng ban hành Quyết định số 2625/QĐ-UBND về danh mục hồ, ao, đầm, phá không được san lấp trên địa bàn thành phố.
Theo quyết định, có tổng số 245 hồ, ao, đầm, phá trên địa bàn thành phố thuộc diện không được san lấp. Trong đó có nhiều hồ, đập quen thuộc như hồ Đình làng Hải Châu, hồ Đảo Xanh, hồ Công viên 29-3, hồ Vĩnh Trung, hồ Cẩm Kim, hồ Trà Quế, đập Màn, đập Mây, đập Cây Dung...
Ngoài ra, còn có 36 hồ chứa thủy lợi do Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Đà Nẵng quản lý như Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, An Long, Nước Rôn, Trung Lộc... và 31 hồ chứa thủy điện như A Vương, A Vương 3, Sông Tranh 2, Sông Tranh 3, Sông Tranh 4...
Hồ thủy lợi Phú Ninh nằm trong danh mục các ao, hồ, đầm phá không được san lấp.
Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệmcông bố danh mục đến các sở, ban, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân liên quan; đồng thời cập nhật vào Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia theo quy định. Sở Nông nghiệp và Môi trường đồng thười trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương rà soát, tham mưu UBND TP điều chỉnh, bổ sung danh mục định kỳ 5 năm một lần hoặc khi cần thiết.
UBND TP Đà Nẵng giao UBND các xã, phường thông báo, phổ biến nội dung quyết định đến các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý hồ, ao, đầm, phá thuộc danh mục; đồng thời tăng cường tuyên truyền để người dân không xả chất thải chưa qua xử lý vào các thủy vực, không tự ý san lấp hoặc cải tạo hồ, ao, đầm, phá gây ảnh hưởng đến môi trường và nguồn nước. Các địa phương cũng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm; rà soát, đề xuất điều chỉnh, bổ sung danh mục đối với các hồ, ao, đầm, phá trên địa bàn theo quy định.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu 29 địa phương cần đẩy nhanh tiến độ kiểm kê tài nguyên nước năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trườngvừa có công văn số 5506/BNNMT-TNN gửi UBND các tỉnh, thành phố yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành tổng hợp kết quả kiểm kê tài nguyên nước năm 2026.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua, nhiều địa phương đã tích cực triển khaikiểm kê tài nguyên nướcđối với nguồn nước nội tỉnh và hoạt động khai thác, sử dụng thuộc phạm vi quản lý. Tuy nhiên, tiến độ chung vẫn còn chậm so với yêu cầu đề ra.
Bộ NN-MT yêu cầu 29 địa phương đẩy nhanh kiểm kê tài nguyên nước. Ảnh: NNMT.
Tính đến nay, mới chỉ có 5/34 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ kiểm kê theo phạm vi hành chính mới và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm: Đồng Tháp, Lai Châu, Thanh Hóa, Lạng Sơn và TP. Hồ Chí Minh. Còn lại 29 địa phương chưa hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu.
Để bảo đảm tiến độ thực hiện Đề án kiểm kê tài nguyên nước quốc gia do Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương vào cuộc.
Cụ thể, đối với 29 tỉnh, thành phố chưa hoàn thành, UBND các địa phương cần chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh tiến độ kiểm kê, sớm hoàn thành và gửi kết quả về Bộ, đồng thời cập nhật đầy đủ dữ liệu lên phần mềm kiểm kê tài nguyên nước.
Đối với 5 địa phương đã hoàn thành, Bộ yêu cầu tiếp tục phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước để rà soát, cập nhật và hoàn thiện dữ liệu theo yêu cầu mới, bảo đảm đồng bộ, chính xác.
Việc kiểm kê tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng trong quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiết yếu này, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn.
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 1] Khi 'vựa lúa' mất dần khả năng giữ chân con người
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 2] ‘Vòng xoáy suy thoái’ khó đảo ngược
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 3] Biến những dòng sông thành 'siêu hồ chứa'
An ninh nguồn nước ĐBSCL: [Bài 4] Kinh nghiệm ‘biến sông thành hồ nước ngọt’
Trước đây, giới chuyên môn thủy lợi không hề nghĩ đến việc xây dựng cống ở các cửa sông lớn với độ sâu hơn 10m và nền đất yếu, vì theo công nghệ cống truyền thống thì không thể làm khô hố móng; còn theo công nghệ nước ngoài thì nền kinh tế nước ta thời nào cũng không đáp ứng được.Tình trạng này từng là "nút thắt" khiến tư duy quy hoạch thủy lợi ĐBSCL bị giới hạn ở các cống nội đồng quy mô vừa và nhỏ. Nhưng tình hình đã thay đổi căn bản trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã làm chủ công nghệ then chốt để xây dựng công trình kiểm soát nguồn nước (CTKSNN) tại các cửa sông lớn.
Công nghệ đập trụ đỡ thi công tại chỗĐập trụ đỡ là sáng chế Việt Nam được cấp bằng độc quyền số 6601 năm 2007, đã được kiểm chứng qua hơn 30 cống ngăn sông lớn vùng đồng bằng ven biển - tiêu biểu là cống Thảo Long 500m (TP Huế, 2004) và Cái Lớn - Cái Bé 450m (An Giang, 2022).Đặc trưng then chốt là thi công trong dòng chảy: từng trụ độc lập bê tông cốt thép ngàm vào nền qua hệ cọc đóng sâu trong khung vây cọc ván thép, kết hợp tường cừ chống thấm theo đường viền đứng và thảm đá chống xói; tiết diện thoát nước qua công trình bằng tiết diện lòng sông tự nhiên. Giữa các trụ lắp cửa van hiện đại rộng 40-60m điều khiển bằng xi-lanh thủy lực. Đập Thảo Long (Huế) được xây dựng bằng công nghệ đập trụ đỡ. Ảnh: Văn Dinh.
Ưu thế nổi bật của đập trụ đỡ là khả năng kết hợp cầu giao thông trên cùng kết cấu trụ đỡ - giảm đáng kể chi phí so với xây cầu riêng và đặc biệt phù hợp nền đất yếu đáy sông ĐBSCL. Vì tính an toàn và đã chứng minh, đập trụ đỡ được chọn làm xương sống cho 4/7 cửa cần kết hợp cầu hoặc cảng cố định: Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cổ Chiên/Cung Hầu và Trần Đề. Cửa Tiểu (khẩu độ 600-1.000m) là công trình được ưu tiên triển khai sớm trong thời gian tới, cho phép kế thừa kinh nghiệm trực tiếp và đẩy nhanh tiến độ triển khai.
Công nghệ đập hộp chìm
Đập hộp chìm là sáng chế Việt Nam đang trong giai đoạn nghiên cứu - thiết kế, được đề xuất để xây cống thủy lợi lớn cố định ở lòng sông sâu vùng đồng bằng ven biển, với mục tiêu thi công nhanh và giá thành rẻ hơn đập trụ đỡ.
ĐHC gồm nhiều đơn nguyên dạng hộp chữ nhật rỗng bằng bê tông cốt thép mác cao (chiều dài B vuông góc dòng chảy có thể đạt vài trăm mét), được chế tạo trong hố đúc tại bãi/nhà máy, làm nổi và lai dắt đến vị trí xây dựng, rồi hạ chìm sát đáy sông để làm cống vĩnh viễn. Ổn định công trình do trọng lượng G và chiều rộng L quyết định theo các nguyên lý chống lật, trượt, lún và thấm.
ĐHC có hai loại theo độ sâu: loại 1 tầng cho H<12m và loại 2 tầng có sàn trung gian cho H>12m; sàn đỉnh có thể tận dụng làm cầu giao thông. So với đập trụ đỡ, đập hộp chìm bỏ được các hạng mục thi công khó khăn dưới sông sâu (khung vây cọc ván thép, trụ chịu lực bằng hệ cọc, thảm chống xói riêng), do đó giảm đáng kể chi phí và rút ngắn thời gian thi công.
Đập hộp chìm được đề xuất cho 2/7 cửa: Hàm Luông (loại 2 tầng, sâu 12-15m - là cửa rộng và sâu nhất hệ thống, nơi đập trụ đỡ sẽ tốn kém quá mức) và Định An (loại 1 tầng - độ sâu nhỏ 3-4m do bồi lắng đặc biệt thuận lợi cho dìm khối hộp). Tác giả bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu - phát triển hợp tác với Hà Lan và Bỉ - những quốc gia có kinh nghiệm khối hộp chìm quy mô lớn nhất - để đưa công nghệ này từ thiết kế sang triển khai thực địa, lấy Định An làm công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông.
Công nghệ đập tàu thủy
Đập tàu thủy là sáng chế Việt Nam đang được nghiên cứu, phù hợp với sông sâu không có quy hoạch cầu giao thông cố định và chỉ cần kiểm soát mặn mùa khô. Khác biệt căn bản so với đập trụ đỡ và đập hộp chìm: Đập tàu thủy là công trình di động - lắp dựng đầu mùa khô, cuối mùa khô hút hết nước trong lòng đơn nguyên cho nổi lên và di dời về nơi cất giữ, hoặc chỉ lắp khi có dự báo hạn cực đoan. Nguyên lý chế tạo gần giống đập hộp chìm (hộp bê tông cốt thép trong hố đúc - làm nổi - di dời - hạ chìm) nhưng kết cấu trong lòng đơn nguyên đơn giản hơn (chỉ có thanh dàn để ổn định, không chia khoang), bên dưới đáy có lớp cao su chống dính khi làm nổi trở lại.
Phạm vi áp dụng: sông chiều rộng dưới 400m mỗi đơn nguyên, ghép 1-2 đơn nguyên cho sông trung bình. Ưu điểm nổi bật là chi phí thấp nhất trong ba công nghệ do bỏ được hệ cọc chịu lực, khung vây cọc ván thép và thảm chống xói; mùa mưa lòng sông hoàn toàn tự nhiên không có công trình; có thể tái sử dụng cho nhiều vị trí.
Đập tàu thủy được đề xuất cho cửa Ba Lai (khẩu độ tự nhiên ~544m, sâu ~5 m) - kết hợp cải tạo cống Ba Lai cũ (84m, 2002) thành hệ thống kiểm soát mặn theo nguyên lý mở - thường, đóng - khi cần, đồng thời làm bãi thử nghiệm quy mô vừa cho công nghệ trước khi xem xét nhân rộng. Ba Lai là công trình thực địa đầu tiên ở quy mô cửa sông cho công nghệ này giai đoạn 2030-2040, sau khi mô hình thử nghiệm quy mô vài trăm mét tại kênh - cống ngoài hệ thống đã thành công.
Kịch bản đầu tư 7 công trình kiểm soát nguồn nước tại các cửa sông lớn vùng ĐBSCL và ước tính hiệu quả kinh tế các công trình mang trong giai đoạn từ 2025 đến 2075. Ảnh: THS.
Bằng việc kết hợp linh hoạt ba công nghệ trên cho các cửa sông, ước tính tổng vốn đầu tư cho hệ thống khoảng 5-10 tỷ USD (ước tính sơ bộ của tác giả; có tham chiếu với một số công trình khác). So với thiệt hại tránh được khoảng 70.000 tỷ VND/năm (~2,88 tỷ USD/năm) hiện nay và còn tăng trong tương lai, thời gian hoàn vốn kinh tế ròng chỉ khoảng 8-15 năm - một mức hiệu quả đầu tư rất cao theo chuẩn các dự án hạ tầng quốc gia. Đặc biệt nếu tính cả các giá trị gián tiếp (cảng biển, cầu giao thông, năng lượng thủy triều, phục hồi sinh thái), tỷ lệ B/C có thể đạt 3-5 lần.
Qua các phân tích của bài báo này, câu hỏi được đặt ra có lẽ không phải là “có nên can thiệp công trình hay không” mà là “can thiệp theo cách nào để giải quyết được nguyên nhân gốc rễ”. Các quan ngại cần được đối thoại nghiêm túc trên cơ sở khoa học, không phải bác bỏ. Đề xuất CTKSNN không phủ định các giải pháp "thuận thiên" và không định vị mình là giải pháp thay thế. Ngược lại, CTKSNN được hiểu là điều kiện đủ về mặt thủy văn, đảm bảo dòng nước ngọt mùa khô để các giải pháp mềm (chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, lúa - tôm, trữ nước phân tán, kiểm soát khai thác nước ngầm, ngoại giao Mekong) có cơ sở vật chất phát huy hiệu quả trong những năm cực đoan.
Có quan ngại cho rằng, việc xây dựng các CTKSNN sẽ cản trở di cư của các loài cá và giao thông thủy. Đây là quan ngại sinh thái chính đáng. Tuy nhiên, công trình hiện đại đều có âu tàu hiện đại, thang cá và âu cá tích hợp. Hơn nữa, do CTKSNN có tiết diện bằng lòng sông, lại được mở theo yêu cầu môi trường, di cư cá vẫn diễn ra tự nhiên trong 90-95% thời gian. Khi đóng cửa van trong những giờ cao điểm triều mặn, các thiết kế "thân thiện với cá" như cửa quay xiên, lạch phụ thông qua được áp dụng để giảm thiểu cản trở. Bài học từ Hà Lan, Đức, Anh cho thấy có thể duy trì 70-80% lưu lượng di cư cá tự nhiên qua thiết kế tốt.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong
|
|
Quảng Trị xây dựng Đề án cung cấp nước sạch giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu bảo đảm cấp nước an toàn, bền vững cho người dân trên toàn tỉnh.
Theo đề án, tỉnh sẽ rà soát toàn diện hệ thống cấp nước tại đô thị, nông thôn, khu công nghiệp và khu kinh tế; đồng thời đánh giá chất lượng, trữ lượng nguồn nước mặt và nước ngầm để xây dựng phương án khai thác phù hợp.
Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 92% dân số đô thị được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, 80% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn và giảm tỷ lệ công trình cấp nước hoạt động kém bền vững xuống còn 30%.
Quảng Trị sẽ mở rộng mạng lưới cấp nước theo hướng liên vùng, liên xã, ưu tiên khu vực miền núi, vùng khó khăn và những nơi thường xuyên thiếu nước sinh hoạt do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng, tỉnh định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số ngành nước thông qua ứng dụng GIS, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), lắp đặt đồng hồ nước thông minh và triển khai thanh toán không dùng tiền mặt.
Đề án dự kiến hoàn thành trước ngày 20/9/2026 bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì triển khai thực hiện.
Nguồn: mae.gov.vn
|
|
Trước áp lực hạn mặn, biến đổi khí hậu, nhiều giải pháp tích trữ nước, sản xuất lúa chất lượng cao đang được thúc đẩy tại ĐBSCL.
Nông nghiệp ĐBSCL bước vào kỷ nguyên không cần nhiều sức người
Giải pháp số từng bước thay đổi cách làm nông nghiệp ở ĐBSCL
ĐBSCL chuyển mạnh từ 'ứng phó bị động' sang 'chủ động thích ứng' với thiên tai
Rõ người, rõ việc trong kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu vùng ĐBSCL
Mới đây, tại phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long, Trung tâm Khuyến nông vùng ĐBSCL, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long cùng các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo “Chuyển giao công nghệ, kiến thức thực hành sản xuất lúa chất lượng cao, hiệu quả bền vững và truyền thông phòng tránh hạn, xâm nhập mặn tại 5 tỉnh, thành vùng ĐBSCL và tỉnh Tây Ninh”. Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Vận hành cống Vũng Liêm trữ nước ngọt, ngăn mặn cho vùng Nam Măng Thít, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.Theo báo cáo của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, tình trạng thiếu nước cục bộ vẫn xảy ra do phân bố nguồn nước chưa đồng đều, hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ và tác động ngày càng lớn của xâm nhập mặn.TS Trần Thái Hùng, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho biết, những năm gần đây, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL có xu hướng xuất hiện sớm hơn, kéo dài hơn và gia tăng cường độ dưới tác động của biến đổi khí hậu cùng sự suy giảm nguồn nước ngọt từ thượng nguồn.
Ban tổ chức cũng chia sẻ nhiều kinh nghiệm, mô hình tích trữ nước phân tán phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng tránh hạn mặn; đồng thời triển khai chiến lược công tác khuyến nông phục vụ định hướng phát triển nông nghiệp trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hội thảo cũng giới thiệu mô hình nông nghiệp bền vững hướng tới tương lai (Forward Farming) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo.Theo TS. Hồng Minh Hoàng, Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, việc trữ nước trên ruộng lúa trước các đợt xâm nhập mặn, kết hợp sử dụng nước tiết kiệm và tái sử dụng nước là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng thích ứng cho sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL. Ông cũng đề xuất hình thành các ô thủy lợi nội đồng đồng bộ để chủ động cấp, tiêu và trữ nước phục vụ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.Các chuyên gia cũng cảnh báo, ĐBSCL thời gian tới sẽ tiếp tục chịu tác động của nước biển dâng, sụt lún nền đất và gia tăng nhu cầu sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mekong. Theo Viện Mekong - Đại học Cần Thơ, nhu cầu sử dụng nước tại các quốc gia thượng lưu đến năm 2040 có thể tăng 50-60%, tạo thêm áp lực lên nguồn nước mùa khô vùng hạ lưu ĐBSCL.Để bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, nông dân cần chú ý áp dụng các mô hình tích trữ nước phân tán phù hợp từng loại cây trồng. Cụ thể như trữ nước trên ruộng lúa ở mức tối đa trước thời điểm được dự báo xâm nhập mặn cao hoặc tích trữ nước trong ao, mương vườn cây ăn trái trong mùa khô hạn.
Nguồn: baonongnghiepvamoitruong.vn
|
|